Tình huống
Một nam bệnh nhân 59 tuổi mắc đái tháo đường type 2 đến khám định kỳ. Bệnh nhân có tiền sử bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim cách đây 3 năm, hiện không có triệu chứng tim mạch. Bệnh nhân đã bỏ thuốc lá. Hằng ngày, bệnh nhân tự theo dõi đường huyết trước ăn sáng, đa số kết quả dưới 150 mg/dL. Bệnh nhân không ghi nhận tình trạng hạ đường huyết. Các thuốc đang sử dụng bao gồm: metformin 1.000 mg x 2 lần/ngày, glimepiride 4 mg x 2 lần/ngày, simvastatin 40 mg/ngày, metoprolol 50 mg/ngày, quinapril 40 mg/ngày và aspirin 81 mg/ngày. Khám lâm sàng: chiều cao 175 cm, cân nặng 113 kg, mạch 65 lần/phút, huyết áp 145/85 mmHg, chỉ số khối cơ thể (BMI) 37 (béo phì trung tâm), tiếng thổi tâm thu 2/6 ở bờ trái xương ức, giảm cảm giác châm chích ở bàn chân đến cổ chân và mất phản xạ gân gót hai bên. Kết quả xét nghiệm như sau:
- HbA1c: 7,5%
- Creatinin huyết thanh: 1,2 mg/dL
- Cholesterol toàn phần: 150 mg/dL
- Triglycerid: 195 mg/dL
- HDL-cholesterol: 42 mg/dL
- LDL-cholesterol (tính toán): 69 mg/dL
- Non-HDL cholesterol: 108 mg/dL
Kết quả xét nghiệm nào sau đây hỗ trợ chẩn đoán hạ đường huyết do tăng tiết insulin nội sinh (giá trị tham chiếu: C-peptide 0,9–4,3 ng/mL; β-hydroxybutyrate < 0,4 mmol/L)?