Tình huống
Một nam bệnh nhân 68 tuổi được phẫu thuật bắc cầu động mạch vành kết hợp sửa van hai lá để điều trị bệnh mạch vành nhiều nhánh và hở van hai lá. Tiền sử bệnh lý bao gồm tăng huyết áp và đái tháo đường type 2. Quá trình phẫu thuật kéo dài nhưng không có biến chứng đáng kể. Sau phẫu thuật, tình trạng huyết động của bệnh nhân ổn định và được rút ống nội khí quản sau khi chuyển đến đơn vị hồi sức tích cực (ICU). Sáng hôm sau, bệnh nhân xuất hiện tình trạng tụt huyết áp và giảm lượng nước tiểu. Ghi nhận dấu hiệu sinh tồn: nhiệt độ 35,6°C, huyết áp 80/50 mmHg, nhịp tim 118 lần/phút, độ bão hòa oxy (SpO2) 98%. Vết mổ xương ức không thấm dịch bất thường và ống dẫn lưu ngực không ra thêm dịch trong 4 giờ qua. Phổi nghe trong. Tiếng tim mờ, không nghe thấy tiếng thổi. Bụng không chướng, chi lạnh và vã mồ hôi. Điện tâm đồ cho thấy nhịp xoang nhanh và thay đổi sóng T không đặc hiệu. Kết quả đo từ ống thông động mạch phổi (Swan-Ganz) cho thấy: áp lực nhĩ phải 20 mmHg (bình thường: 2-8), áp lực thất phải 35/20 mmHg (bình thường: 15-30/2-8), áp lực mao mạch phổi bít (PCWP) 20 mmHg (bình thường: 6-12).
Nguyên nhân nào sau đây là khả năng cao nhất gây ra tình trạng tụt huyết áp của bệnh nhân này?