TÓM TẮT
Định nghĩa và yếu tố nguy cơ – Bạch sản niêm mạc miệng là một tổn thương tiền ung thư trong khoang miệng, biểu hiện dưới dạng các mảng trắng trên niêm mạc. Tình trạng này tương đối phổ biến với tỷ lệ hiện mắc khoảng 4%. Các yếu tố nguy cơ của bạch sản niêm mạc miệng tương tự như ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC), bao gồm sử dụng thuốc lá (hút thuốc và đặc biệt là thuốc lá không khói) và uống rượu bia. (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học và yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Về mặt lâm sàng, bạch sản niêm mạc miệng được chia làm hai thể: thể đồng nhất (hình 2A-B) và thể không đồng nhất (hình 3), trong đó thể không đồng nhất có nguy cơ tiến triển thành ung thư miệng cao hơn. (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ và ‘Các đặc điểm lâm sàng liên quan đến tăng nguy cơ ung thư miệng’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán bạch sản đòi hỏi phải sinh thiết để xét nghiệm mô bệnh học. Các đặc điểm bệnh lý của bạch sản bao gồm tăng sừng (hyperkeratosis), cận sừng (parakeratosis), teo niêm mạc và viêm, có hoặc không kèm theo nghịch sản (dysplasia). (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt bao gồm nhiều bệnh lý lành tính và tiền ung thư khác cũng biểu hiện dưới dạng các mảng trắng trên niêm mạc miệng (sơ đồ 1). (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Xử trí – Tất cả bệnh nhân cần được tư vấn cai thuốc lá và rượu bia. Chiến lược xử trí dựa trên kích thước và thể tổn thương, kết quả mô bệnh học và đánh giá nguy cơ ung thư miệng của bệnh nhân (sơ đồ 2).
Đối với bệnh nhân có tổn thương bạch sản nhỏ (<3 cm) kèm theo bất kỳ yếu tố nguy cơ nào sau đây, chúng tôi đề nghị phẫu thuật cắt bỏ (Khuyến cáo 2C):
- Hình thái không đồng nhất
- Vị trí vùng nguy cơ cao (bờ bên/bờ dưới lưỡi, sàn miệng)
- Có nghịch sản
Đối với bệnh nhân có bạch sản nhỏ (<3 cm) mà không có các yếu tố nguy cơ trên, phương án theo dõi là phù hợp.
Những bệnh nhân có bạch sản kích thước lớn hoặc đa ổ, không thể phẫu thuật cắt bỏ, cần được theo dõi chặt chẽ về lâm sàng và mô bệnh học.
Theo dõi – Vì tình trạng tái phát tại chỗ hoặc tiến triển thành ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) vẫn có thể xảy ra dù đã phẫu thuật cắt bỏ, khuyến cáo bệnh nhân cần theo dõi lâm sàng định kỳ suốt đời mỗi 3 đến 12 tháng, đồng thời thực hiện xét nghiệm mô bệnh học cho tất cả các tổn thương mới hoặc tái phát sau điều trị. (Xem thêm mục ‘Tiên lượng’ ở dưới.)
Bạch sản sùi tăng sinh – Bạch sản sùi tăng sinh (PVL) là một thể hiếm gặp và tiến triển ác tính của bạch sản niêm mạc miệng không đồng nhất, đặc trưng bởi hình thái sùi, đa ổ, phát triển chậm và tỷ lệ chuyển dạng ác tính cao (hình 4). Các phương pháp như phẫu thuật cắt bỏ, đốt laser, xạ trị, bôi bleomycin tại chỗ và dùng retinoid đường uống đã được áp dụng để kiểm soát tạm thời PVL. Tuy nhiên, tình trạng tái phát và/hoặc tiến triển thành ung thư xảy ra ở hơn 70% bệnh nhân, với tỷ lệ tử vong khoảng 30% sau 10 năm. (Xem thêm mục ‘Bạch sản sùi tăng sinh’ ở dưới.)