TÓM TẮT
Giới thiệu – Điều trị tân bổ trợ là liệu pháp điều trị hệ thống cho ung thư vú trước khi tiến hành phẫu thuật triệt căn (tức là điều trị tiền phẫu). (Xem thêm ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Lựa chọn bệnh nhân điều trị tân bổ trợ – Nhìn chung, những bệnh nhân ung thư vú tam âm (TNBC) giai đoạn II và III thường được chỉ định điều trị tân bổ trợ thay vì điều trị bổ trợ (sơ đồ 1). Việc quyết định điều trị tân bổ trợ cho bệnh nhân TNBC giai đoạn lâm sàng I tùy thuộc vào việc liệu đáp ứng điều trị có giúp tối ưu hóa quá trình phẫu thuật hay không. (Xem thêm ‘Lựa chọn bệnh nhân’ ở dưới.)
Lựa chọn phác đồ
- Cho tất cả bệnh nhân TNBC – Đối với bệnh nhân TNBC điều trị tân bổ trợ, chúng tôi đề xuất phác đồ kết hợp cả anthracycline và taxane (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Các thuốc sử dụng không phân biệt giai đoạn bệnh’ ở dưới.)
- Điều trị bổ sung cho ung thư giai đoạn II hoặc III
Đối với bệnh nhân TNBC giai đoạn II hoặc III điều trị hóa trị tân bổ trợ (NACT), chúng tôi khuyến cáo bổ sung pembrolizumab vào phác đồ NACT (Khuyến cáo 1B). Thuốc được bắt đầu đồng thời với NACT và tiếp tục duy trì đơn trị liệu trong giai đoạn bổ trợ, với điều kiện bệnh nhân không có chống chỉ định với liệu pháp miễn dịch.
Với những bệnh nhân có chống chỉ định với pembrolizumab (ví dụ: có rối loạn tự miễn tiền tàng), có thể thay thế bằng phác đồ paclitaxel và carboplatin hàng tuần, sau đó là doxorubicin và cyclophosphamide (AC) hoặc epirubicin và cyclophosphamide (EC). (Xem thêm ‘Các lựa chọn thay thế không dùng anthracycline’ ở dưới.)
Ngoài ra, đối với bệnh nhân TNBC giai đoạn II hoặc III, chúng tôi đề xuất đưa carboplatin vào phác đồ NACT (Khuyến cáo 2C), bất kể có sử dụng pembrolizumab hay không. (Xem thêm ‘Lựa chọn khung hóa trị’, ‘Kết hợp pembrolizumab với hóa trị’ và ‘Điều trị bổ sung cho giai đoạn II và III’ ở dưới.)
Phác đồ thay thế – Ở những bệnh nhân chống chỉ định với anthracycline, phác đồ docetaxel-cyclophosphamide (TC) là một lựa chọn tân bổ trợ hợp lý, đặc biệt ở bệnh nhân giai đoạn I. Với bệnh nhân giai đoạn II và III, nếu không thể dùng anthracycline, có thể thay thế bằng docetaxel và carboplatin mỗi 3 tuần, hoặc paclitaxel và carboplatin hàng tuần; điều này dựa trên bằng chứng về lợi ích của việc bổ sung thuốc nhóm platinum trong điều trị tân bổ trợ và bổ trợ cho bệnh nhân TNBC. (Xem thêm ‘Hóa trị phối hợp anthracycline và taxane’ ở dưới.)
Có các thuốc thay thế cho bệnh nhân quá mẫn với taxane (bảng 5). (Xem thêm ‘Quá mẫn với taxane’ ở dưới.)
Theo dõi trong quá trình điều trị – Đối với bệnh nhân điều trị NACT, chúng tôi thực hiện khám lâm sàng (bao gồm khám vú và hố nách cùng bên) mỗi 2 đến 4 tuần (tức là trước mỗi chu kỳ điều trị). Chỉ thực hiện chẩn đoán hình ảnh (siêu âm hoặc MRI) trong quá trình điều trị nếu nghi ngờ bệnh tiến triển dựa trên khám lâm sàng hoặc triệu chứng. Tuy nhiên, các lâm sàng viên cần lưu ý rằng hình ảnh học định kỳ có thể gây nhầm lẫn, vì đáp ứng trên hình ảnh học có thể chậm hơn so với đáp ứng lâm sàng. Việc quản lý bệnh nhân tiến triển trong quá trình điều trị tân bổ trợ được thảo luận chi tiết ở phần khác. (Xem “Nguyên tắc chung trong quản lý tân bổ trợ ung thư vú”, mục ‘Đáp ứng kém hoặc tiến triển trong điều trị tân bổ trợ’.)