U đệm dây sinh dục buồng trứng: Xử trí ở người lớn

TÓM TẮT

Xử trí ngoại khoa

Phân giai đoạn phẫu thuật cho các u dây sinh dục – mô đệm (SCSTs) ác tính nhìn chung tương tự như các u nang buồng trứng ác tính nguyên phát khác (bảng 3), thường bao gồm cắt tử cung toàn phần và cắt hai phần phụ (vòi trứng và buồng trứng). (Xem phần ‘Xử trí ngoại khoa cho bệnh nhân u SCSTs ác tính’ ở dưới.)

Tuy nhiên, đối với những bệnh nhân có nguyện vọng bảo tồn khả năng sinh sản, có thể cân nhắc bảo tồn buồng trứng đối diện và/hoặc tử cung nếu không có bằng chứng tổn thương, tùy thuộc vào đặc điểm mô bệnh học của khối u. (Xem phần ‘Xử trí ngoại khoa cho bệnh nhân u SCSTs ác tính’ ở dưới.)

Đối với hầu hết bệnh nhân u dây sinh dục – mô đệm ác tính, chúng tôi khuyến cáo không thực hiện nạo hạch chậu và hạch cạnh động mạch chủ bụng (Khuyến cáo 2C). Tuy nhiên, nạo hạch sẽ được chỉ định khi hạch sờ thấy to hoặc khi nghi ngờ chẩn đoán một loại u buồng trứng ác tính có mô bệnh học khác. (Xem phần ‘Xử trí ngoại khoa cho bệnh nhân u SCSTs ác tính’ ở dưới và “U dây sinh dục – mô đệm buồng trứng: Dịch tễ học, đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán ở người trưởng thành”, mục ‘Chẩn đoán’.)

Tiếp cận hậu phẫu

Đối với bệnh nhân giai đoạn IA đã hoàn tất điều trị phẫu thuật, hướng tiếp cận hậu phẫu của chúng tôi như sau (mặc dù các chiến lược thay thế vẫn có thể chấp nhận được trong bối cảnh dữ liệu còn hạn chế):

  • Đối với u tế bào hạt: Chúng tôi khuyến cáo theo dõi sau điều trị thay vì hóa trị bổ trợ (Khuyến cáo 2C). (Xem phần ‘U tế bào hạt’ ở dưới.)
  • Đối với u tế bào Sertoli-Leydig độ trung bình đến cao, hoặc có thể dị loại hoặc thể lưới: Chúng tôi khuyến cáo hóa trị bổ trợ (Khuyến cáo 2C). Với các khối u biệt hóa tốt, chỉ cần theo dõi. (Xem phần ‘U tế bào Sertoli-Leydig’ ở dưới.)
  • Đối với bệnh nhân có khối u xâm lấn bề mặt buồng trứng (giai đoạn IC) hoặc giai đoạn tiến triển hơn (giai đoạn II trở lên): Chúng tôi khuyến cáo hóa trị bổ trợ (Khuyến cáo 2C), mặc dù vấn đề này còn gây tranh cãi đối với bệnh nhân giai đoạn IC và theo dõi cũng là một chiến lược chấp nhận được. Lưu ý rằng giai đoạn IB về cơ bản là không tồn tại. (Xem phần ‘Liệu pháp bổ trợ’ ở dưới.)

Về lựa chọn phác đồ: Đối với bệnh nhân ≤ 40 tuổi, chúng tôi khuyến cáo phác đồ bleomycin, etoposide và cisplatin (BEP) (Khuyến cáo 2C); trong khi đối với bệnh nhân > 40 tuổi, phác đồ paclitaxel phối hợp carboplatin (PC) được khuyến cáo (Khuyến cáo 2C) do khả năng dung nạp tốt hơn so với BEP ở nhóm tuổi này. (Xem phần ‘Lựa chọn phác đồ’ ở dưới.)

Bệnh tái phát

Đối với hầu hết bệnh nhân có tổn thương tái phát có thể phẫu thuật cắt bỏ, chúng tôi khuyến cáo điều trị ngoại khoa (Khuyến cáo 2C). Sau phẫu thuật, chúng tôi khuyến cáo hóa trị phác đồ gốc platinum thay vì các phác đồ khác, xạ trị hậu phẫu hoặc chỉ theo dõi (Khuyến cáo 2C). (Xem phần ‘Bệnh tái phát’ ở dưới.)

Đối với hầu hết bệnh nhân tái phát không có chỉ định phẫu thuật, chúng tôi khuyến cáo hóa trị phác đồ gốc platinum thay vì xạ trị hoặc các liệu pháp nội khoa khác (Khuyến cáo 2C), mặc dù các lựa chọn thay thế hợp lý bao gồm liệu pháp nội tiết (đối với u tế bào hạt) hoặc thuốc ức chế tăng sinh mạch. Do các liệu pháp hiệu quả cho bệnh nhân di căn còn hạn chế, có thể thực hiện phân tích đặc điểm genomic để xác định các đột biến phổ biến nhằm áp dụng các thuốc nhắm trúng đích mới trong các thử nghiệm lâm sàng. (Xem phần ‘U tế bào hạt’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here