Tàn nhang ác tính: Biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán và xử trí

TÓM TẮT

Định nghĩa và diễn tiến tự nhiên – Lentigo maligna (LM) là một thể u hắc tố tại chỗ tiến triển chậm, thường xuất hiện ở vùng da mặt và cổ bị tổn thương do ánh nắng ở người cao tuổi (hình 1A-E). Tỷ lệ tiến triển thành u hắc tố lentigo maligna (LMM) xâm lấn dao động từ 5% đến 20%. Các dấu hiệu lâm sàng của sự tiến triển bao gồm: sắc tố đậm hơn, bờ rõ nét hơn, hoặc xuất hiện các vùng gồ lên/dạng nốt. (Xem thêm phần ‘Dịch tễ học và diễn tiến tự nhiên’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng – Về mặt lâm sàng, LM biểu hiện là một tổn thương dạng dát không điển hình với đặc điểm hình dạng không đều, màu sắc đa dạng và kích thước thay đổi (hình 1A-E). Đặc điểm nội soi da (dermoscopy) của LM bao gồm: lỗ nang lông có sắc tố không đối xứng (mạng giả không điển hình); các đường góc cạnh/cấu trúc hình thoi; cùng các chấm và hạt màu xám (hình 5A). Vùng da xung quanh thường có dấu hiệu tổn thương do ánh nắng mạn tính (thoái hóa sợi chun, dát đồi mồi hoặc dày sừng quang hóa). (Xem thêm phần ‘Đặc điểm lâm sàng’‘Đặc điểm nội soi da’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Chẩn đoán LM được xác lập thông qua xét nghiệm mô bệnh học. Sinh thiết cắt bỏ với lề hẹp là lựa chọn lý tưởng để chẩn đoán. Đối với các tổn thương lớn hoặc nằm ở những vùng nhạy cảm về thẩm mỹ, có thể thực hiện một hoặc nhiều lần sinh thiết một phần tại những vùng có hình dạng không đều nhất hoặc sắc tố đậm nhất. Nội soi da có thể hỗ trợ trong việc lựa chọn vị trí sinh thiết. Về mặt mô bệnh học, LM đặc trưng bởi sự gia tăng số lượng tế bào hắc tố không điển hình, thường có hình thoi, sắp xếp thành các tế bào đơn lẻ hoặc các ổ nhỏ dọc theo vùng tiếp giáp biểu bì – trung bì. (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán’‘Đặc điểm mô bệnh học’ ở dưới.)

Xử trí

Phẫu thuật cắt bỏ – Chúng tôi đề xuất phẫu thuật cắt rộng tại chỗ (WLE) là lựa chọn điều trị đầu tay cho LM, thay vì xạ trị (RT) hoặc bôi imiquimod tại chỗ (Khuyến cáo 2C). Lề phẫu thuật từ 0,5 đến 1 cm được chấp nhận là tiêu chuẩn cho WLE. Nếu có điều kiện, các kỹ thuật phẫu thuật cho phép kiểm soát lề hoàn toàn, chẳng hạn như cắt bỏ từng giai đoạn với xét nghiệm mô bệnh học vĩnh viễn (“slow Mohs”), là lựa chọn ưu tiên cho LM ở vùng mặt, nơi việc bảo tồn mô lành là thiết yếu để duy trì thẩm mỹ và chức năng (hình 1). (Xem thêm phần ‘Phẫu thuật’ ở dưới.)

Các liệu pháp không phẫu thuật – Các liệu pháp không phẫu thuật như xạ trị (RT) và bôi imiquimod tại chỗ là những lựa chọn điều trị cho bệnh nhân cao tuổi không có chỉ định phẫu thuật, hoặc những trường hợp không thể phẫu thuật cắt bỏ hoặc dự kiến việc tái tạo sẽ gặp khó khăn. Hạn chế chính của các phương pháp không phẫu thuật là không thể đánh giá mô bệnh học toàn bộ khối u để phát hiện các ổ u hắc tố xâm lấn (vốn không biểu hiện ở lần sinh thiết ban đầu) và thiếu sự kiểm soát lề về mặt mô bệnh học. Xạ trị hoặc imiquimod cũng có thể được sử dụng như một phương pháp điều trị bổ trợ cho những bệnh nhân có lề dương tính sau phẫu thuật cắt bỏ khi không thể tiếp tục phẫu thuật mở rộng. (Xem thêm phần ‘Các liệu pháp không phẫu thuật’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here