Gãy xương và trật khớp khuỷu tay ở người lớn

TÓM TẮT

Dịch tễ học – Gãy vùng khuỷu ở người lớn ít gặp hơn so với trẻ em và có cơ chế chấn thương khác nhau. Các trường hợp gãy xương ở người lớn thường là gãy nội khớp, xảy ra sau khi ngã hoặc trong quá trình hoạt động thể thao, giải trí. Trật khớp khuỷu là loại trật khớp phổ biến thứ hai ở người lớn, sau trật khớp vai. (Xem thêm ‘Dịch tễ học chung’‘Trật khớp khuỷu’ ở dưới.)

Gãy chỏm và cổ xương quay – Đây là những tổn thương gãy xương khuỷu phổ biến ở người lớn và sẽ được thảo luận chi tiết trong một phần riêng.

  • Biểu hiện: Bệnh nhân thường nhập viện với tình trạng đau mặt ngoài khuỷu, tiền sử ngã chống tay hoặc chấn thương trực tiếp vào vùng khuỷu.
  • Thăm khám: Thường ghi nhận điểm đau khu trú, sưng nề mặt ngoài khuỷu và thường hạn chế vận động khớp khuỷu.
(Xem thêm “Gãy chỏm và cổ xương quay ở người lớn”.)

Gãy đầu dưới xương cánh tay

Cơ chế chấn thương và biểu hiện lâm sàng – Gãy đầu dưới xương cánh tay thường là kết quả của lực tác động đẩy đầu gần xương trụ hoặc chỏm xương quay vào bề mặt khớp của ròng rọc hoặc chỏm con, gây ra gãy nội khớp phức tạp.

  • Ở người trẻ: Thường do chấn thương năng lượng cao.
  • Ở người cao tuổi: Thường do ngã năng lượng thấp (ví dụ: ngã từ tư thế đứng).
Thăm khám lâm sàng ghi nhận điểm đau, xuất huyết dưới da, sưng nề làm mất các mốc giải phẫu của khuỷu và hạn chế vận động khớp. Một bệnh nhân vẫn có thể thực hiện duỗi khuỷu hoàn toàn thì ít có khả năng bị gãy xương khuỷu. Các biến chứng có thể gặp bao gồm tổn thương động mạch cánh tay đoạn xa và dây thần kinh giữa (hình 4) hoặc dây thần kinh trụ (hình 5). (Xem thêm ‘Giải phẫu, cơ chế và biểu hiện lâm sàng’, ‘Khám thực thể’‘Biến chứng’ ở dưới.)

Chẩn đoán hình ảnh – Cần chụp X-quang quy ước tiêu chuẩn, bao gồm phim thẳng-ngang với tư thế khuỷu gấp 40 độ nếu có thể. (Xem thêm ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

Hội chẩn ngoại khoa và xử trí ban đầu – Cần hội chẩn ngoại khoa khẩn cấp nếu có dấu hiệu tổn thương mạch máu hoặc đối với tất cả các trường hợp gãy xương hở. Ngoài ra, phẫu thuật viên chỉnh hình cần được thông báo sớm về bất kỳ tổn thương thần kinh phối hợp nào. Đối với các trường hợp gãy đầu dưới xương cánh tay khác, việc hội chẩn ngoại khoa nên được thực hiện kịp thời, thường trong vòng ba ngày. Trong thời gian chờ hội chẩn, xương gãy có thể được cố định bằng nẹp dài phía sau cánh tay với cẳng tay ở vị trí trung tính. (Xem thêm ‘Chỉ định hội chẩn chỉnh hình’, ‘Xử trí ban đầu’‘Quay lại thể thao và làm việc’ ở dưới.)

Gãy mỏm khuỷu

Cơ chế chấn thương và biểu hiện lâm sàng – Gãy mỏm khuỷu thường do ngã trực tiếp hoặc chịu một cú đánh mạnh vào vùng khuỷu.

  • Triệu chứng: Bệnh nhân than đau mặt sau khuỷu, sờ thấy điểm đau khu trú.
  • Thăm khám: Cần sờ nắn chỏm xương quay vì có thể có trật chỏm xương quay kèm theo. Đánh giá chức năng cơ tam đầu và tầm vận động duỗi khuỷu nếu bệnh nhân không quá đau. Đồng thời, cần đánh giá dây thần kinh trụ (hình 5) vì đây là dây thần kinh dễ bị tổn thương trong trường hợp này.
(Xem thêm ‘Giải phẫu, cơ chế và biểu hiện lâm sàng’‘Khám thực thể’ ở dưới.)

Chẩn đoán hình ảnh – Cần chụp X-quang khuỷu tư thế nghiêng chuẩn để chẩn đoán và xác định mức độ tổn thương, bao gồm cả tổn thương mỏm vẹt và chỏm xương quay. (Xem thêm ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

Hội chẩn ngoại khoa và xử trí ban đầu – Hội chẩn ngoại khoa khẩn cấp là bắt buộc khi có dấu hiệu tổn thương mạch máu hoặc gãy xương hở. Phẫu thuật viên cần được thông báo về mọi tổn thương thần kinh phối hợp. Đối với các trường hợp gãy mỏm khuỷu khác (ngoại trừ gãy bong nhỏ không ảnh hưởng đến khớp), cần hội chẩn chỉnh hình trong vòng ba ngày. Xương gãy có thể được cố định bằng nẹp dài phía sau với cẳng tay ở vị trí trung tính; tư thế gấp khuỷu 45 độ (thay vì 90 độ) có thể hỗ trợ quá trình nắn chỉnh xương gãy. (Xem thêm ‘Chỉ định hội chẩn chỉnh hình’‘Xử trí ban đầu’ ở dưới.)

Trật khớp khuỷu – Hầu hết các trường hợp trật khớp khuỷu là trật ra sau hoặc ra sau-ngoài. Trật khớp có thể xảy ra trong các hoạt động sinh hoạt, làm việc hoặc khi chơi thể thao; ngã chống tay và va chạm/xung đột là những nguyên nhân phổ biến.

  • Biểu hiện: Cẳng tay bị ngắn lại, khuỷu giữ ở tư thế gấp 90 độ. Biến dạng ra sau rõ rệt trừ khi khớp đã tự nắn chỉnh.
  • Thăm khám: Sờ nắn thấy đau lan tỏa và có tiếng lạo xạo. Vận động khớp khuỷu bị hạn chế nghiêm trọng.
  • Biến chứng: Có thể bao gồm tổn thương động mạch cánh tay và các dây thần kinh ngoại biên chi trên.
(Xem thêm ‘Cơ chế và hình thái tổn thương’, ‘Biểu hiện lâm sàng’‘Khám thực thể’ ở dưới.)

Chẩn đoán hình ảnh – Cần chụp X-quang quy ước tiêu chuẩn khớp khuỷu trước khi tiến hành nắn chỉnh. Việc nắn chỉnh có thể không khả thi nếu có gãy xương phức tạp hoặc có các mảnh gãy lớn. (Xem thêm ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

Thủ thuật nắn chỉnh – Có thể sử dụng gây tê đám rối cánh tay dưới đòn hoặc gây tê tại chỗ (hematoma block) để giảm đau. Các kỹ thuật nắn chỉnh bao gồm: kéo dãn (hình 11), kỹ thuật đòn bẩy (hình 12) và kỹ thuật kéo dãn – đối kéo. Các quy trình này được mô tả chi tiết trong văn bản. (Xem thêm ‘Thủ thuật nắn chỉnh’ ở dưới.)

Xử trí sau nắn chỉnh – Cần chuyển tuyến chỉnh hình khẩn cấp nếu không thể nắn chỉnh khớp khuỷu hoặc có bằng chứng của hội chứng chèn ép khoang cấp tính. Những bệnh nhân có khiếm khuyết thần kinh hoặc hạn chế vận động khuỷu sau nắn chỉnh cần được phẫu thuật viên chỉnh hình đánh giá trong vòng ba ngày kể từ khi chấn thương. (Xem thêm ‘Chỉ định hội chẩn và theo dõi chỉnh hình’, ‘Biến chứng’‘Quay lại thể thao và làm việc’ ở dưới.)

Các loại gãy xương khuỷu khác – Các loại gãy xương khuỷu bổ sung được xem xét trong văn bản. (Xem thêm ‘Gãy trượt mỏm vẹt’, ‘Gãy mỏm vẹt’‘Gãy Monteggia ở người lớn’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here