U xơ da (u tế bào hình sợi lành tính)

TÓM TẮT

Thông thường, u xơ da điển hình không có triệu chứng và không tiến triển thì không cần điều trị. Không khuyến cáo phẫu thuật cắt bỏ đối với u xơ da điển hình, vì sẹo sau phẫu thuật thường mất thẩm mỹ hơn chính tổn thương ban đầu.

Đối với những bệnh nhân muốn điều trị vì lý do thẩm mỹ, chúng tôi đề xuất sử dụng liệu pháp áp lạnh bằng nitơ lỏng thay vì phẫu thuật cắt bỏ. Liệu pháp áp lạnh đã được áp dụng và mang lại hiệu quả đối với các tổn thương nhô cao, giúp làm phẳng hoặc biến mất tổn thương với kết quả thẩm mỹ tốt 32,33.

Các biến thể không điển hình có nguy cơ tái phát cao hơn, do đó cần thực hiện phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn với diện cắt sạch. (Xem thêm mục ‘Các biến thể bệnh lý lâm sàng hiếm gặp’ ở dưới.)

TIÊN LƯỢNG

U xơ da thường là tổn thương lành tính, không tiến triển, không gây triệu chứng và hầu như không phát triển thêm về kích thước. Trường hợp tổn thương tự thoái triển rất hiếm gặp và là ngoại lệ.

Các biến thể không điển hình (ví dụ: thể tế bào, thể biểu mô, thể phình mạch) có thể tái phát tại chỗ sau phẫu thuật cắt bỏ và trong một số trường hợp cực kỳ hiếm gặp có thể di căn.

TỔNG KẾT VÀ KHUYẾN NGHỊ

  • Định nghĩa – U xơ da (dermatofibroma), hay còn gọi là u mô bào sợi lành tính (benign fibrous histiocytoma), là tổn thương mô mềm phổ biến do sự tăng sinh của các tế bào hình thoi lành tính trong lớp hạ bì.
  • Biểu hiện lâm sàng – U xơ da biểu hiện là các sẩn ở hạ bì, chắc, phát triển chậm hoặc không tiến triển, có màu hồng hoặc nâu/vàng/đen, đường kính thường <2 cm, thường xuất hiện ở các chi (hình 1A-B).

    Tổn thương thường đơn độc. Việc xuất hiện nhiều tổn thương có thể liên quan đến các rối loạn tự miễn, suy giảm miễn dịch hoặc bệnh lý ác tính. (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

    Các biến thể bệnh lý lâm sàng hiếm gặp của u xơ da bao gồm: thể tế bào, thể biểu mô, thể phình mạch/lắng hemosiderin, thể lipid và u xơ da không điển hình. (Xem thêm mục ‘Các biến thể bệnh lý lâm sàng hiếm gặp’ ở dưới.)

  • Chẩn đoán – Chẩn đoán thường dựa trên lâm sàng, thông qua hình thái tổn thương và bệnh sử. Đặc trưng của u xơ da là “dấu hiệu lõm” (dimple sign), trong đó tổn thương lõm ở trung tâm khi ép nhẹ hai bên hình 2A-B.

    Soi da (dermoscopy) điển hình cho thấy mạng lưới sắc tố mảnh ở ngoại vi và vùng trung tâm dạng sẹo (hình 3). Những tổn thương thay đổi nhanh, có triệu chứng hoặc có hình thái không điển hình cần được sinh thiết để loại trừ các biến thể không điển hình hoặc các khối u tân sinh khác. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

  • Điều trị – Phương pháp điều trị khác nhau tùy theo tổn thương là điển hình hay không điển hình. (Xem thêm mục ‘Điều trị’ ở dưới.)
    • U xơ da điển hình, không có triệu chứng và không tiến triển thường không cần điều trị. Tuy nhiên, với những bệnh nhân muốn điều trị vì mục đích thẩm mỹ, chúng tôi đề xuất liệu pháp áp lạnh bằng nitơ lỏng thay vì phẫu thuật cắt bỏ (Khuyến cáo 2C).
    • Đối với các tổn thương đã được sinh thiết và xác định mô bệnh học là biến thể không điển hình, chúng tôi đề xuất phẫu thuật cắt bỏ thay vì theo dõi hoặc áp lạnh (Khuyến cáo 2C). Cần đảm bảo diện cắt sạch, nếu không, tỷ lệ tái phát là rất cao.

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here