TÓM TẮT
Sinh lý bệnh và đặc điểm xét nghiệm – Hội chứng kháng hormone tăng trưởng (GHI) có thể gây ra bởi các đột biến mất chức năng ở thụ thể hormone tăng trưởng (GH) hoặc các chất trung gian hạ nguồn, bao gồm yếu tố tăng trưởng giống insulin-1 (IGF-1). Những hội chứng hiếm gặp này đặc trưng bởi nồng độ GH bình thường hoặc tăng cao và nồng độ IGF-1 thấp (ngoại trừ đột biến thụ thể IGF-1, khi đó nồng độ IGF-1 tăng hoặc bình thường) (
bảng 1). (Xem mục
‘Sinh lý bệnh và biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Hầu hết bệnh nhân thấp còi có nồng độ GH bình thường không mắc các hội chứng GHI này và được phân loại là thấp còi vô căn thay vì GHI. Tuy nhiên, mức độ kháng GH nhẹ có thể đóng một vai trò trong thấp còi vô căn (
hình 1). Phần lớn bệnh nhân thấp còi vô căn không đủ điều kiện để điều trị bằng IGF-1 tái tổ hợp. (Xem mục
‘Đánh giá’ ở dưới và
“Điều trị hormone tăng trưởng cho thấp còi vô căn”, phần ‘Điều chỉnh liều theo nồng độ IGF-1’.)
Xác định nguyên nhân – Các nguyên nhân gây GHI và đặc điểm lâm sàng của chúng được liệt kê trong bảng (
bảng 1). Quy trình đánh giá bệnh nhân nghi ngờ mắc GHI được trình bày trong sơ đồ (
sơ đồ 1).
Hội chứng Laron – Hội chứng Laron là nguyên nhân phổ biến nhất gây GHI, do đột biến gen thụ thể GH. Bệnh nhân mắc hội chứng này có tình trạng chậm tăng trưởng nặng sau sinh, khuôn mặt đặc trưng và các bất thường về chuyển hóa (
hình 1 và
bảng 2). Đa số bệnh nhân có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải hoặc Trung Đông (bao gồm một quần thể ở Ecuador), và tiền sử gia đình có hôn nhân cận huyết là phổ biến. (Xem mục
‘Đột biến thụ thể hormone tăng trưởng (Hội chứng Laron)’ ở dưới.)
Nghi ngờ hội chứng Laron ở những bệnh nhân chậm tăng trưởng nặng, nồng độ IGF-1 và protein gắn IGF-1 loại 3 (IGFBP-3) thấp, đặc biệt nếu nồng độ GH bình thường hoặc tăng, nồng độ protein gắn GH (GHBP) thấp và nghiệm pháp tạo IGF-1 dưới mức bình thường (
sơ đồ 1). Chẩn đoán cần được xác nhận thông qua xét nghiệm di truyền nếu có điều kiện. Các xét nghiệm này cũng giúp xác định và phân loại các nguyên nhân khác gây GHI nguyên phát (
bảng 1). (Xem mục
‘Đánh giá’ và
‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Đột biến gen IGF1 – Ở những bệnh nhân chậm tăng trưởng nặng trong bào thai, cần xem xét khả năng đột biến gen
IGF1. Tương tự như bệnh nhân đột biến thụ thể GH, những bệnh nhân này có nồng độ GH bình thường hoặc tăng và nồng độ IGF-1 thấp. Tuy nhiên, khác với đột biến thụ thể GH, nồng độ IGFBP-3 trong huyết tương tăng cao (
bảng 1). (Xem mục
‘Khiếm khuyết tổng hợp IGF-1’ ở dưới.)
Quản lý và điều trị
Nguyên nhân chưa rõ/GHI một phần – Nếu chưa xác định được nguyên nhân gây GHI, chúng tôi đề xuất điều trị thử bằng GH trước khi xem xét thay thế IGF-1 (
sơ đồ 1) (
Khuyến cáo 2C). Một số trẻ mắc GHI một phần có thể đáp ứng với GH (nếu dùng liều cao hơn so với bệnh nhân thiếu hụt GH điển hình), biểu hiện qua việc tăng tốc độ tăng trưởng chiều cao và nồng độ IGF-1. Nếu GH có hiệu quả, phương pháp này được ưu tiên hơn so với IGF-1. Những bệnh nhân không đáp ứng có thể chuyển sang điều trị bằng IGF-1. (Xem mục
‘Điều trị thử bằng hormone tăng trưởng’ ở dưới.)
GHI nặng – Đối với trẻ từ hai tuổi trở lên mắc GHI nặng (được định nghĩa là chiều cao và nồng độ IGF-1 cơ bản $\le -3$ độ lệch chuẩn [SD], kèm theo nồng độ GH bình thường hoặc tăng) do hội chứng Laron hoặc hầu hết các khiếm khuyết đã biết khác, chúng tôi khuyến cáo điều trị bằng IGF-1 (mecasermin) thay vì dùng GH hoặc không điều trị (
Khuyến cáo 1B). Hạ đường huyết là tác dụng phụ thường gặp của IGF-1 tái tổ hợp, đặc biệt là ở trẻ nhỏ. IGF-1 không có hiệu quả đối với bệnh nhân đột biến thụ thể IGF-1. (Xem mục
‘Điều trị’ ở dưới.)