TÓM TẮT
Dịch tễ học – Gãy đơn độc xương thang hoặc xương thê ít gặp. Khi xảy ra, gãy một trong hai xương này thường đi kèm với các tổn thương khác ở ngón cái, cổ tay hoặc bàn tay. (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ và ‘Giải phẫu lâm sàng’ ở dưới.)
Phân loại và cơ chế gãy – Gãy xương thang thường tổn thương vùng thân xương hoặc bong điểm bám gờ gan tay. Khi duỗi cổ tay, xương quay và xương thuyền xoay, khiến xương thang dễ tổn thương hơn. Gãy xương thang có thể đi kèm với gãy đầu dưới xương quay, gãy xương thuyền hoặc trật khớp gãy nền xương bàn ngón I. Gãy xương thê thường xảy ra do lực nén trục dọc theo xương bàn ngón II, chấn thương năng lượng cao, chấn thương dập nát, hoặc gập/duỗi cổ tay cưỡng bức. Trong thể thao, tình trạng gập/duỗi cưỡng bức này thường xảy ra khi vận động viên đổ người cứu bóng hoặc đối thủ với cánh tay duỗi thẳng. (Xem thêm ‘Cơ chế chấn thương’ và ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Biểu hiện và thăm khám gãy xương thang – Gãy xương thang điển hình thường sưng nhẹ, nhưng có thể có xuất huyết dưới da và gây khó chịu nhiều. Bệnh nhân thường đau và yếu khi thực hiện động tác kẹp (ví dụ: dấu hiệu “OK” hoặc chạm ngón cái vào đầu ngón út). Ấn đau khu trú ở mặt mu xương thường gặp trong tổn thương thân xương (hình 1 và hình 2). Có thể xuất hiện điểm đau tại hố lào (hình 8 và hình 5). Việc thăm khám các cấu trúc xung quanh (ví dụ: đầu dưới xương quay, xương thuyền, xương bàn ngón I, dây thần kinh giữa) là rất quan trọng vì thường có tổn thương phối hợp. (Xem thêm ‘Triệu chứng và kết quả thăm khám’ và ‘Đánh giá các cấu trúc lân cận và tình trạng thần kinh mạch máu’ ở dưới.)
Biểu hiện và thăm khám gãy xương thê – Gãy xương thê thường biểu hiện bằng đau vùng mu-quay cổ tay sau chấn thương. Bệnh nhân thường sưng nề ở mức độ nhất định, có thể có xuất huyết dưới da dọc theo mu bàn tay và ấn đau khu trú ở mặt mu, ngay phía gần nền xương bàn ngón II (hình 3). Động tác duỗi cổ tay chống lại lực cản có thể gây đau do gân cơ duỗi cổ tay quay đi ngang qua xương thê. (Xem thêm ‘Triệu chứng và kết quả thăm khám’ ở dưới.)
Chẩn đoán hình ảnh – Gãy xương thang và xương thê thường khó quan sát trên các phim X-quang quy ước, một phần do hiện tượng chồng hình của các xương cổ tay khác. Phim chụp trước-sau (AP) chuẩn hoặc phim Bett và phim hầm cổ tay giúp quan sát tốt hơn trong một số trường hợp; tuy nhiên, chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc cộng hưởng từ (MRI) có thể cần thiết để chẩn đoán xác định. (Xem thêm ‘Chẩn đoán hình ảnh’ và ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Các tổn thương tương đối phổ biến có biểu hiện tương tự bao gồm gãy xương thuyền hoặc các xương cổ tay khác, gãy đầu dưới xương quay, gãy hoặc trật khớp gãy các xương bàn ngón. (Xem thêm ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Chỉ định chuyển chuyên khoa phẫu thuật
- Cần chuyển gấp đến chuyên gia đối với mọi trường hợp gãy hở hoặc gãy xương kèm theo thiếu hụt thần kinh hoặc mạch máu. Các tổn thương phối hợp (ví dụ: gãy xương thuyền hoặc gãy đầu dưới xương quay có di lệch) cũng là chỉ định chuyển tuyến. (Xem thêm “Gãy xương thuyền”, “Gãy đầu dưới xương quay ở người lớn” và “Gãy xương bàn ngón I (ngón cái)”.)
- Đối với xương thang: Chuyển phẫu thuật bàn tay nếu gãy thân xương di lệch trên 2 mm, gãy gờ xa (loại II), gãy phức tạp, hoặc bất kỳ tổn thương nào đi kèm gãy các xương lân cận hoặc bán trật khớp cổ tay – bàn tay (CMC). (Xem thêm ‘Chỉ định chuyển chuyên khoa phẫu thuật’ ở dưới.)
- Đối với xương thê: Chuyển phẫu thuật bàn tay nếu gãy kèm theo vỡ phức tạp, di lệch ở bất kỳ mức độ nào hoặc trật khớp. (Xem thêm ‘Chỉ định chuyển chuyên khoa phẫu thuật’ ở dưới.)
Xử trí gãy xương không di lệch, không biến chứng
- Gãy đơn độc, không biến chứng, không di lệch thân xương thang hoặc gãy đơn độc nền gờ xương thang (loại I) có thể điều trị hiệu quả bằng cách bất động từ 4 đến 6 tuần, thường dùng bó bột ngắn cánh tay có nẹp ngón cái (thumb spica cast). (Xem thêm ‘Điều trị ban đầu’ ở dưới.)
- Gãy đường linear dọc hoặc ngang đơn độc, không di lệch của xương thê có thể điều trị bảo tồn bằng bất động bột ngắn cánh tay (hình 7) trong 4 đến 6 tuần sau khi tình trạng sưng nề ban đầu đã giảm. Nếu sưng nề nhiều lúc đầu, có thể dùng nẹp gan tay từ 3 đến 5 ngày (hình 7). (Xem thêm ‘Chỉ định chuyển chuyên khoa phẫu thuật’ ở dưới.)
- Cần theo dõi định kỳ để đảm bảo bột vừa vặn và kiểm tra trục gãy. Chi tiết về xử trí được trình bày trong nội dung văn bản. (Xem thêm ‘Điều trị ban đầu’ và ‘Chăm sóc theo dõi’ ở dưới.)
Theo dõi và biến chứng – Để quay lại chơi thể thao hoặc lao động nặng, bệnh nhân cần đạt tầm vận động đầy đủ của ngón cái và cổ tay, đồng thời sức cơ đạt ít nhất 80% so với bên không tổn thương trên tất cả các mặt phẳng vận động của các khớp này. Tổn thương một trong ba mặt khớp của xương thang trong đường gãy có thể dẫn đến thoái hóa khớp muộn, cần can thiệp phẫu thuật. Các biến chứng lâu dài khác bao gồm hội chứng ống cổ tay, viêm khớp, bệnh lý gân cơ gấp cổ tay quay, giảm lực kẹp và khớp không liền. (Xem thêm ‘Chăm sóc theo dõi’, ‘Biến chứng’ và ‘Khuyến nghị quay lại thể thao hoặc làm việc’ ở dưới.)