Gãy xương vùng cổ chân ở người lớn

TÓM TẮT

Dịch tễ học và cơ chế chấn thương – Phần lớn các trường hợp gãy xương cổ chân là gãy mắt cá, trong đó 60% đến 70% là gãy một mắt cá. Chấn thương sấp (xoay trong) thường gây kéo căng các cấu trúc cổ chân phía ngoài và nén các cấu trúc phía trong. Ngược lại, chấn thương ngửa (xoay ngoài) gây kéo căng phía trong và nén phía ngoài. Thông thường, các cấu trúc chịu lực kéo sẽ gãy hoặc rách trước các cấu trúc chịu lực nén. (Xem thêm ‘Dịch tễ học và yếu tố nguy cơ’, ‘Giải phẫu lâm sàng’‘Cơ chế chấn thương’ ở dưới.)

Chỉ định chuyển tuyến – Gãy hở và bất kỳ tổn thương nào kèm theo thiếu hụt thần kinh hoặc mạch máu cần được chuyển đến chuyên khoa chấn thương chỉnh hình ngay lập tức. Gãy kèm trật khớp cần được nắn chỉnh nhanh và chuyển tuyến. Mất sự đồng trục của khớp hoặc mất tính ổn định là những lý do chính để chuyển tuyến và can thiệp phẫu thuật. Các tổn thương không ổn định nên được chuyển tuyến trong vòng vài ngày sau chấn thương. (Xem thêm ‘Chỉ định hội chẩn hoặc chuyển tuyến chấn thương chỉnh hình’ ở dưới.)

Khám lâm sàng – Gãy xương cổ chân, đặc biệt là do ngã, có thể che lấp các tổn thương khác. Đặc biệt đối với người cao tuổi hoặc chấn thương nghiêm trọng, cần thăm khám kỹ cột sống thắt lưng, hông, xương chày, xương mác (đặc biệt là cổ xương mác) và bàn chân để kiểm tra các tổn thương phối hợp. (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng và thăm khám’ ở dưới.)

Tổn thương ổn định và không ổn định – Sau khi loại trừ các tình trạng cấp cứu, ưu tiên hàng đầu là xác định gãy xương là ổn định (có thể điều trị bảo tồn) hay không ổn định (phải chuyển tuyến). Thông thường, gãy xương cổ chân được coi là ổn định nếu đáp ứng các tiêu chí sau:

  • Gãy đơn độc mắt cá ngoài (sơ đồ 1), mắt cá trong hoặc mắt cá sau.
  • Gãy không di lệch và nằm tại hoặc dưới mức mộng chày sên.
  • Không kèm theo tổn thương dây chằng.

Gãy xương cổ chân là không ổn định nếu có từ hai vị trí tổn thương nghiêm trọng trở lên, ví dụ: gãy mắt cá ngoài kèm đứt dây chằng delta hoặc gãy hai mắt cá. (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng và thăm khám’‘Chỉ định hội chẩn hoặc chuyển tuyến chấn thương chỉnh hình’ ở dưới.)

Chẩn đoán hình ảnh – Quy tắc Ottawa đối với cổ chân giúp xác định xem có cần chụp X-quang cổ chân hoặc bàn chân trong đánh giá chấn thương cổ chân cấp tính hay không (hình 18). Các tư thế chụp tiêu chuẩn khi cần chẩn đoán hình ảnh bao gồm: trước-sau (AP), chếch và nghiêng. (Xem thêm ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

Xử trí ban đầu – Xử trí ban đầu đối với gãy xương cổ chân bao gồm: nẹp cố định, chườm lạnh, kê cao chân hơn mức tim và dùng thuốc giảm đau. Cổ chân nên được nẹp ở góc 90 độ. Thông thường, nẹp ngắn phía sau cẳng chân là đủ. (Xem thêm ‘Điều trị ban đầu’ ở dưới.)

Điều trị – Gãy xương cổ chân không ổn định thường yêu cầu phẫu thuật điều trị. Việc quản lý các loại gãy xương cổ chân chính được thảo luận chi tiết trong bài. Mục tiêu của phục hồi chức năng là khôi phục tầm vận động, sức cơ hoặc cảm thụ bản thể bị mất. (Xem thêm ‘Điều trị các loại gãy mắt cá cụ thể’‘Phục hồi chức năng sau gãy xương cổ chân’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here