TÓM TẮT
Điều trị ban đầu cho viêm gan tự miễn thường bao gồm glucocorticoid, có hoặc không kết hợp với azathioprine hoặc 6-mercaptopurine (sơ đồ 1). Liệu pháp tấn công, liệu pháp duy trì và tiên lượng sẽ được thảo luận chi tiết trong các phần riêng biệt. (Xem “Quản lý viêm gan tự miễn ở người trưởng thành”.)
TÓM TẮT VÀ KHUYẾN NGHỊ
Tổng quan – Viêm gan tự miễn là một bệnh lý viêm gan mạn tính, chủ yếu xảy ra ở nữ giới và có thể khởi phát ở mọi lứa tuổi. Bệnh thường đặc trưng bởi sự hiện diện của các kháng thể tự miễn trong máu và nồng độ globulin huyết thanh tăng cao (bảng 2). Bệnh có thể bắt đầu dưới dạng viêm gan cấp và tiến triển thành bệnh gan mạn tính hoặc xơ gan. (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng – Viêm gan tự miễn có tính chất không đồng nhất và biến động, dẫn đến các biểu hiện lâm sàng rất đa dạng. Phổ bệnh lý trải dài từ những bệnh nhân không có triệu chứng đến những người có triệu chứng nghiêm trọng, đôi khi gây suy kiệt, và thậm chí là suy gan cấp. (Xem phần ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Đánh giá chẩn đoán – Việc chẩn đoán dựa trên các phát hiện đặc trưng về huyết thanh học, mô bệnh học và loại trừ các thể bệnh gan mạn tính khác. Bệnh thường được nghi ngờ cao dựa trên các đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm, do đó sinh thiết gan không phải lúc nào cũng cần thiết đối với những bệnh nhân có kết quả điển hình trên các xét nghiệm không xâm lấn (xem phần ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới):
- Đối với người trưởng thành có các đặc điểm lâm sàng hoặc xét nghiệm phù hợp, chúng tôi chỉ định xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANA), kháng thể kháng cơ trơn (ASMA), kháng thể kháng ty thể (AMA), kháng thể kháng microsomal gan/thận-1 (anti-LKM-1), và nồng độ immunoglobulin G (IgG) hoặc gamma globulin. Với những bệnh nhân có kết quả âm tính với các kháng thể tự miễn này, chúng tôi sẽ thực hiện thêm xét nghiệm kháng thể kháng kháng nguyên gan hòa tan/kháng thể gan tụy (anti-SLA/LP), kháng thể kháng actin và kháng thể kháng bào tương bạch cầu đa nhân trung tính quanh nhân không điển hình.
- Chúng tôi ưu tiên sinh thiết gan cho tất cả bệnh nhân nghi ngờ viêm gan tự miễn vì đánh giá mô bệnh học giúp xác nhận chẩn đoán và định hướng điều trị. Đánh giá mô bệnh học đặc biệt hữu ích trong chẩn đoán đối với những bệnh nhân có ít dấu hiệu hoặc có dấu hiệu không điển hình, kháng thể tự miễn âm tính và/hoặc nồng độ IgG bình thường.
- Việc đánh giá chẩn đoán cho trẻ em nghi ngờ viêm gan tự miễn được thảo luận trong một phần riêng. (Xem “Viêm gan tự miễn ở trẻ em và thanh thiếu niên”.)
Điều trị – Điều trị ban đầu cho viêm gan tự miễn thường bao gồm glucocorticoid, có hoặc không kết hợp với azathioprine hoặc 6-mercaptopurine (sơ đồ 1). Liệu pháp tấn công, liệu pháp duy trì và tiên lượng được thảo luận chi tiết trong các phần riêng biệt. (Xem “Quản lý viêm gan tự miễn ở người trưởng thành”.)