Liệu pháp dịch và điện giải ở trẻ sơ sinh

TÓM TẮT

Các yếu tố ảnh hưởng đến điều trị điện giải: Sự cân bằng nước và điện giải ở trẻ sơ sinh được quyết định bởi tuổi thai và các tác động sau sinh lên sự phân bố tổng lượng nước cơ thể (TBW), chức năng thận và tình trạng mất nước. Khi xác định nhu cầu duy trì và điều chỉnh các bất thường, liệu pháp dịch và điện giải phải tính đến các yếu tố này.

Sụt cân: Sau sinh, hiện tượng lợi tiểu sinh lý dịch ngoại bào (ECF) gây sụt cân trong tuần đầu đời. Mức độ lợi tiểu và tỷ lệ sụt cân tương đối tăng lên khi tuổi thai (GA) càng thấp. Mức sụt cân bình thường là khoảng 5% ở trẻ đủ tháng và khoảng 10% đến 15% ở trẻ sinh non. (Xem thêm ‘Thay đổi tổng lượng nước cơ thể’‘Cân nặng’ ở dưới.)

Chức năng thận: Chức năng thận chịu ảnh hưởng của cả tuổi thai và tuổi sau sinh.

  • Tốc độ lọc cầu thận (GFR): GFR ở trẻ sơ sinh thấp và giảm dần khi tuổi thai càng nhỏ. Mặc dù GFR tăng ở tất cả trẻ sơ sinh sau sinh, nhưng tốc độ tăng này chậm hơn ở những trẻ có tuổi thai thấp. (Xem thêm ‘Tốc độ lọc cầu cầu thận (GFR)’ ở dưới.)
  • Chức năng ống thận: Chức năng ống thận ở trẻ sơ sinh chưa hoàn thiện, dẫn đến khả năng cô đặc nước tiểu hạn chế, giảm tái hấp thu natri và bicarbonate (gây tăng mất qua thận) và bài tiết kali qua thận thấp. (Xem thêm ‘Khả năng cô đặc nước tiểu và các chức năng ống thận khác’ ở dưới.)

Mất nước không cảm thấy: Trẻ sơ sinh có tỷ lệ mất nước không cảm thấy cao hơn so với người lớn. Nguyên nhân chủ yếu là do tăng mất nước qua bay hơi qua da; tình trạng này tăng lên khi tuổi thai càng thấp hoặc khi sử dụng đèn sưởi bức xạ. (Xem thêm ‘Các nguồn gây mất nước’ ở dưới.)

Theo dõi: Để duy trì sự cân bằng dịch và điện giải chính xác ở trẻ sơ sinh, cần thực hiện theo dõi các nội dung sau:

  • Khám lâm sàng và đo cân nặng định kỳ: Khám lâm sàng để đánh giá tuổi thai và các yếu tố góp phần gây mất nước (ví dụ: tổn thương hàng rào bảo vệ da). Theo dõi lâm sàng liên tục để đánh giá tình trạng dịch, bao gồm đánh giá sự ổn định huyết động, cân nặng hàng ngày và tình trạng phù. Sụt cân sinh lý trong 3 đến 5 ngày đầu là bình thường. Quá tải thể tích được gợi ý khi trẻ không sụt cân tương xứng trong giai đoạn này hoặc tăng cân quá mức, phù và tăng huyết áp. Thiếu hụt dịch có thể đi kèm với sụt cân quá mức, nhịp tim nhanh, thời gian đổ đầy mao mạch kéo dài và trong trường hợp nặng là tụt huyết áp. (Xem thêm ‘Khám lâm sàng’‘Cân nặng’ ở dưới.)
  • Theo dõi lượng nước vào và ra (Intake and output): Theo dõi lượng dịch đưa vào và lượng nước tiểu, phân thải ra. (Xem thêm ‘Lượng nước vào và ra’ ở dưới.)
  • Đo nồng độ natri huyết thanh: Theo dõi định kỳ nồng độ natri huyết thanh, đặc biệt đối với trẻ nặng hoặc trẻ đang truyền dịch tĩnh mạch. Trong những ngày đầu sau sinh, sự thay đổi nồng độ natri chủ yếu phản ánh sự thay đổi lượng nước đưa vào, trong đó hạ natri máu liên quan đến thừa nước (quá tải thể tích) và tăng natri máu liên quan đến mất nước quá mức (giảm thể tích). Tần suất theo dõi tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng và tuổi thai của trẻ. (Xem thêm ‘Natri huyết thanh’ ở dưới.)

Tính toán nhu cầu: Việc tính toán nhu cầu dịch và điện giải phải bao gồm cả việc điều chỉnh các bất thường về dịch (thiếu hoặc thừa nước) và nhu cầu duy trì hàng ngày. (Xem thêm ‘Quản lý dịch và điện giải’ ở dưới.)

Bù dịch: Nhu cầu dịch ban đầu và duy trì là lượng cần thiết để đạt được cân bằng nước trung tính sau khi đã trừ đi các mất nước bắt buộc (ví dụ: nước tiểu, phân) và mất nước không cảm thấy (ví dụ: qua da, phổi) (bảng 5). Nhu cầu này chịu ảnh hưởng bởi tuổi sau sinh, cân nặng lúc sinh (BW), các yếu tố môi trường, chức năng thận và việc phụ thuộc vào máy thở. Đối với trẻ sơ sinh truyền dịch tĩnh mạch (ví dụ: trẻ sinh non từ 30 đến 32 tuần tuổi thai), thể tích dịch ban đầu được tính dựa trên tuổi thai. Các tổn thất dịch khác, chẳng hạn như dẫn lưu hổng hồi tràng hoặc dẫn lưu dạ dày, cũng phải được đo lường và bù lại.

Bù điện giải: Nhu cầu duy trì natri, kali và clorua khoảng 2 đến 3 mEq/kg mỗi ngày. Đối với trẻ sơ sinh truyền dịch tĩnh mạch, các điện giải này không được chỉ định trong 48 giờ đầu sau sinh. Các tổn thất điện giải bổ sung ngoài nhu cầu duy trì cần được bù kịp thời.

Các rối loạn điện giải thường gặp: Ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ sinh non, các rối loạn điện giải rất phổ biến, bao gồm:

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here