TÓM TẮT
Tác động sinh lý của thuốc điều trị ADHD – Các thuốc được sử dụng để điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) bao gồm thuốc kích thích, thuốc ức chế tái hấp thu norepinephrine chọn lọc (SNRIs) và thuốc vận mạch alpha-2 adrenergic (bảng 1, bảng 2 và bảng 3). (Xem thêm “Rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ em và thanh thiếu niên: Điều trị bằng thuốc”, “Dược lý học của các thuốc điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ em và thanh thiếu niên” và “Rối loạn tăng động giảm chú ý ở người lớn: Tổng quan về điều trị”.)
Các thuốc này có tác động rõ rệt lên nhịp tim (HR) và huyết áp (BP):
- Thuốc kích thích – Trong các nghiên cứu đánh giá thuốc kích thích (ví dụ: methylphenidate, dexmethylphenidate, dextroamphetamine, dextroamphetamine-amphetamine), những thay đổi về HR và BP được ghi nhận như sau (xem phần ‘Thuốc kích thích’ ở dưới):
- Nhịp tim tăng từ 3 đến 10 nhịp/phút (bpm)
- Huyết áp tâm thu tăng từ 3 đến 8 mmHg
- Huyết áp tâm trương tăng từ 2 đến 6 mmHg
- Thuốc SNRIs – Trong các nghiên cứu về atomoxetine, hầu hết bệnh nhân có sự gia tăng nhẹ về HR và BP; khoảng 10% gặp các thay đổi rõ rệt hơn (HR tăng $\ge 20$ bpm, BP tăng $\ge 15$ đến 20 mmHg). (Xem phần ‘Thuốc không kích thích’ ở dưới và “Dược lý học của các thuốc điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ em và thanh thiếu niên”, mục ‘Tác dụng không mong muốn của Atomoxetine’.)
- Thuốc vận mạch alpha-2 adrenergic – Các thuốc vận mạch alpha-2 adrenergic (ví dụ: guanfacine, clonidine) có thể gây nhịp chậm và ít phổ biến hơn là hạ huyết áp. (Xem phần ‘Thuốc không kích thích’ ở dưới và “Dược lý học của các thuốc điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ em và thanh thiếu niên”, mục ‘Thuốc vận mạch alpha-2-adrenergic’.)
Nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch (CV) nghiêm trọng – Sau một số báo cáo về các ca tử vong bất thường ở trẻ em điều trị bằng thuốc kích thích, đã có những lo ngại về nguy cơ gặp các biến cố tim mạch bất lợi, đặc biệt là đột tử do tim (SCD) khi dùng thuốc điều trị ADHD. Tuy nhiên, các nghiên cứu đoàn hệ lớn không cho thấy tăng nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch nghiêm trọng ở những cá nhân điều trị ADHD (bằng thuốc kích thích hoặc không kích thích) so với quần thể chung. (Xem phần ‘Nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch bất lợi’ ở dưới.)
Đánh giá trước điều trị – Trước khi bắt đầu điều trị ADHD bằng thuốc cho trẻ em và thanh thiếu niên, chúng tôi đề nghị thực hiện đánh giá lâm sàng nhằm xác định các bệnh lý tim mạch tiềm ẩn có thể khiến trẻ dễ gặp đột tử do tim (SCD) hoặc các biến cố tim mạch nghiêm trọng khác. Quá trình này thường bao gồm (xem phần ‘Đánh giá lâm sàng trước điều trị’ ở dưới):
- Khai thác bệnh sử chi tiết
- Tiền sử gia đình
- Khám thực thể, bao gồm đo huyết áp và nhịp tim, nghe tim để phát hiện tiếng thổi hoặc nhịp tim bất thường, và đánh giá các dấu hiệu của hội chứng Marfan
Nếu bệnh sử và thăm khám không gợi ý bệnh tim, có thể bắt đầu điều trị ADHD bằng thuốc mà không cần đánh giá bổ sung. Không yêu cầu sàng lọc bằng điện tâm đồ (ECG). (Xem phần ‘Không có vai trò của sàng lọc ECG thường quy’ ở dưới.)
Theo dõi – Trẻ em được chỉ định thuốc điều trị ADHD cần được đánh giá định kỳ về những thay đổi của nhịp tim hoặc huyết áp, cũng như các triệu chứng tim mạch trong quá trình điều trị. (Xem phần ‘Theo dõi’ ở dưới.)
Sử dụng thuốc điều trị ADHD ở trẻ em có bệnh tim – Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào chứng minh rằng thuốc điều trị ADHD làm tăng nguy cơ đột tử do tim ở trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh hoặc mắc phải. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu đánh giá đầy đủ mức độ an toàn của các thuốc này trên đối tượng bệnh nhân này. (Xem phần ‘Trẻ em mắc bệnh tim’ ở dưới.)
Không có chẩn đoán tim mạch cụ thể nào mà thuốc điều trị ADHD bị chống chỉ định tuyệt đối. Tuy nhiên, quyết định khởi trị thuốc ADHD ở bệnh nhân có bệnh tim tiềm ẩn cần được cá thể hóa và phối hợp chặt chẽ giữa gia đình/người chăm sóc với bác sĩ tim mạch của trẻ. Nếu sử dụng thuốc điều trị ADHD cho những bệnh nhân này, khuyến cáo cần theo dõi sát. (Xem phần ‘Theo dõi’ ở dưới.)