TÓM TẮT
Định nghĩa, phạm vi và thời điểm
- Giai đoạn hậu sản (hay còn gọi là “tam cá nguyệt thứ tư”) bắt đầu ngay sau khi trẻ chào đời và thường kết thúc sau 6 đến 8 tuần. Đây là khoảng thời gian mà hầu hết các hệ thống cơ quan trong cơ thể người mẹ dần trở lại trạng thái như trước khi mang thai. (Xem thêm ‘Định nghĩa giai đoạn hậu sản’ và ‘Các thay đổi và dấu hiệu hậu sản’ ở dưới).
- Chăm sóc hậu sản nội trú thường quy bao gồm nhiều nội dung như: chăm sóc con cùng phòng (rooming-in), theo dõi sức khỏe sản phụ, kiểm soát đau, chăm sóc tầng sinh môn và trong một số trường hợp là dự phòng thuyên tắc huyết khối hoặc bất đồng nhóm máu Rh. (Xem thêm ‘Chăm sóc sản phụ thường quy’ ở dưới).
- Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo sản phụ nên có một cuộc thăm khám (trực tiếp hoặc qua điện thoại) với nhân viên y tế trong vòng 3 tuần đầu sau sinh để giải quyết các vấn đề cấp tính, tiếp tục theo dõi khi cần thiết và thực hiện một lần khám hậu sản toàn diện không muộn hơn 12 tuần sau sinh. Đối với bệnh nhân có rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ, ACOG gợi ý đánh giá huyết áp trong vòng 72 giờ sau xuất viện đối với những trường hợp tăng huyết áp nặng trong thai kỳ hoặc hậu sản, và không muộn hơn 7 đến 10 ngày sau sinh đối với những trường hợp tăng huyết áp không nặng. (Xem thêm ‘Thời điểm và địa điểm’ ở dưới).
- Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo đánh giá hậu sản thường quy vào các thời điểm: ngày thứ 3, từ 1 đến 2 tuần và 6 tuần sau sinh.
Kiểm soát đau
- Hầu hết bệnh nhân sinh ngả âm đạo không cần dùng opioid để kiểm soát đau. Đối với sinh mổ, nên áp dụng các chiến lược giảm đau đa mô thức nhằm thúc đẩy sự phục hồi nhanh chóng, giúp người mẹ sớm chăm sóc con và giảm thiểu nhu cầu sử dụng opioid sau phẫu thuật. (Xem thêm ‘Kiểm soát đau’ ở dưới).
- Các thuốc giảm đau cần tránh hoặc thận trọng khi cho con bú bao gồm: codeine, tramadol, meperidine và aspirin. (Xem thêm ‘Độ an toàn của các thuốc giảm đau thông thường khi cho con bú’ ở dưới).
Xét nghiệm cận lâm sàng
Việc chỉ định xét nghiệm cho bệnh nhân hậu sản nội trú phải dựa trên các chỉ định cụ thể, không thực hiện thường quy. (Xem thêm ‘Xét nghiệm cận lâm sàng’ ở dưới).
Nuôi con bằng sữa mẹ
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tối ưu cho mọi trẻ sơ sinh nhờ những lợi ích sức khỏe đã được chứng minh cho cả con và mẹ. Sự khuyến khích từ nhân viên y tế và các thảo luận nhằm giải quyết những khó khăn khi cho con bú sẽ giúp cải thiện tỷ lệ duy trì nuôi con bằng sữa mẹ. (Xem thêm ‘Hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ và chăm sóc vú’ và ‘Các vấn đề khi cho con bú’ ở dưới).
Tiêm chủng
Cần tư vấn và thực hiện các mũi tiêm chủng phù hợp (hình 2 và bảng 1). (Xem thêm ‘Tiêm chủng thường quy’ ở dưới).
Quan hệ tình dục và tránh thai
Khi sức khỏe và tâm lý sẵn sàng, sản phụ có thể quan hệ tình dục qua đường âm đạo an toàn sớm nhất là 2 tuần sau sinh, với điều kiện tầng sinh môn đã lành và có biện pháp tránh thai. Tuy nhiên, hầu hết mọi người sẽ không sẵn sàng quan hệ sớm như vậy. Hiện tượng rụng trứng có thể xảy ra sớm nhất là 25 ngày sau sinh; do đó, nhu cầu tránh thai của cặp vợ chồng cần được tư vấn trước khi xuất viện và kê đơn thuốc phù hợp. (Xem thêm ‘Tránh thai’ và ‘Hoạt động thể chất’ ở dưới).
Sàng lọc trầm cảm
Sàng lọc trầm cảm là quy trình thường quy. Bộ câu hỏi đã được chuẩn hóa phổ biến nhất là Thang đo Trầm cảm sau sinh Edinburgh (hình 3A-B), tuy nhiên có thể sử dụng các công cụ chuẩn hóa khác. Việc sàng lọc rối loạn lưỡng cực (bảng 7) nên được thực hiện trước khi bắt đầu điều trị thuốc cho lo âu hoặc trầm cảm, vì chẩn đoán sai có thể dẫn đến điều trị không phù hợp, có khả năng gây khởi phát hưng cảm, trạng thái hỗn hợp, chu kỳ nhanh hoặc loạn thần. (Xem thêm ‘Sàng lọc’ ở dưới).