Chất lượng cuộc sống
Hội chứng hậu huyết khối gây tàn phế đáng kể và tạo ra gánh nặng kinh tế cho bệnh nhân cũng như hệ thống chăm sóc sức khỏe 103,104. Suy tĩnh mạch mạn tính, bao gồm cả trường hợp do hội chứng hậu huyết khối, có thể tác động tiêu cực rõ rệt đến chất lượng cuộc sống 48,103,105,106. Một nghiên cứu trên các bệnh nhân sau hai năm điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu cho thấy các chỉ số chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mắc hội chứng hậu huyết khối tương đương với các tiêu chuẩn đã công bố ở những người mắc đau thắt ngực, ung thư hoặc suy tim 105.
TÓM TẮT
- Hội chứng hậu huyết khối – Hội chứng hậu huyết khối bao gồm các triệu chứng và dấu hiệu của suy tĩnh mạch mạn tính tiến triển sau huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT). Đây là hệ quả của tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch kéo dài, được cho là do sự kết hợp giữa tắc nghẽn tĩnh mạch do huyết khối và suy van tĩnh mạch. Hội chứng hậu huyết khối xảy ra ở tối đa 50% bệnh nhân trong năm đầu tiên sau huyết khối cấp tính, bất kể đã điều trị bằng thuốc kháng đông. Hội chứng hậu huyết khối mức độ nặng xuất hiện ở khoảng 5 đến 10% bệnh nhân. (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’, ‘Sinh lý bệnh’ và ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
- Nguy cơ mắc hội chứng hậu huyết khối – Các đặc điểm của bệnh nhân có vai trò quan trọng trong sự phát triển của hội chứng hậu huyết khối bao gồm suy tĩnh mạch nguyên phát, tuổi cao, béo phì và giãn tĩnh mạch trước đó. Các yếu tố quan trọng nhất liên quan đến đợt DVT khởi phát bao gồm: DVT đoạn gần, phân loại mức độ nặng Villalta từ trung bình đến nặng tại thời điểm chẩn đoán DVT, điều trị kháng đông không đủ trong giai đoạn đầu, còn huyết khối tồn dư trong tĩnh mạch và tái phát DVT. (Xem thêm phần ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
- Đặc điểm lâm sàng – Biểu hiện lâm sàng của hội chứng hậu huyết khối tương tự như suy tĩnh mạch mạn tính, bao gồm đau chi, nặng chi, giãn tĩnh mạch, phù chi, thay đổi sắc tố da, thay đổi dinh dưỡng da và loét tĩnh mạch. Phù là biểu hiện phổ biến nhất, xuất hiện ở khoảng 2/3 bệnh nhân. (Xem thêm phần ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới và “Biểu hiện lâm sàng của các bệnh lý tĩnh mạch mạn tính chi dưới”.)
- Chẩn đoán – Chẩn đoán hội chứng hậu huyết khối chủ yếu dựa vào lâm sàng. Đối với những bệnh nhân có tiền sử DVT rõ ràng và có các triệu chứng/dấu hiệu của suy tĩnh mạch mạn tính, có thể chẩn đoán lâm sàng hội chứng hậu huyết khối mà thường không cần thêm các xét nghiệm chẩn đoán khác. Tuy nhiên, chẩn đoán hình ảnh tĩnh mạch, điển hình là siêu âm Doppler màu, có thể hữu ích cho những bệnh nhân không có dấu hiệu lâm sàng rõ ràng, những người có tiền sử nghi ngờ DVT nhưng chưa được thực hiện khảo sát, hoặc để xác định tình trạng hẹp hay tắc tĩnh mạch đoạn gần ở những bệnh nhân có triệu chứng nặng. (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
- Điều trị – Việc quản lý bệnh nhân suy tĩnh mạch mạn tính do hội chứng hậu huyết khối tương tự như các bệnh nhân mắc bệnh tĩnh mạch mạn tính khác, bao gồm kê cao chi, tập thể dục, liệu pháp nén và có thể kết hợp điều trị nội khoa. Việc lựa chọn liệu pháp nén tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của triệu chứng và sự hiện diện của phù, thay đổi sắc tố da hoặc loét. (Xem thêm phần ‘Điều trị’ ở dưới.)
- Can thiệp tĩnh mạch – Đối với những bệnh nhân có triệu chứng nặng và có bằng chứng hẹp hoặc tắc tĩnh mạch đoạn gần trên chẩn đoán hình ảnh, can thiệp tĩnh mạch có thể làm giảm tỷ lệ thay đổi sắc tố da, giảm loét và cải thiện chất lượng cuộc sống. (Xem thêm phần ‘Can thiệp tĩnh mạch’ ở dưới.)