Đặt lưới lọc tĩnh mạch chủ và các biến chứng

TÓM TẮT

Lưới lọc tĩnh mạch chủ dưới (IVC)

Lưới lọc tĩnh mạch chủ dưới (IVC) có thể được chỉ định điều trị bệnh thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch khi bệnh nhân không có chỉ định dùng liệu pháp chống đông, điều trị chống đông thất bại, hoặc những trường hợp khó dung nạp các đợt thuyên tắc phổi tiếp theo (ví dụ: bệnh nhân thuyên tắc phổi cấp gây sốc huyết động hoặc tăng áp động mạch phổi do thuyên tắc huyết khối mạn tính). (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Đặt lưới lọc IVC dự phòng có thể là một lựa chọn cho những bệnh nhân được tuyển chọn kỹ lưỡng, có nguy cơ cao thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch mà các biện pháp dự phòng bằng thuốc hoặc cơ học bị chống chỉ định hoặc không mang lại hiệu quả. (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Các loại lưới lọc IVC – Hầu hết các loại lưới lọc IVC (bảng 2) được phân loại là “có thể lấy ra được”, mặc dù một số loại cũng được chấp thuận cho chỉ định đặt vĩnh viễn. Các loại lưới lọc “vĩnh viễn” trước đây hiện không còn được sản xuất.

Hiện chưa có đủ dữ liệu để so sánh tính an toàn và hiệu quả của từng loại lưới lọc IVC cụ thể. Các bác sĩ lâm sàng nên cân nhắc việc đặt lưới lọc như một thủ thuật có khả năng trở thành vĩnh viễn và, do thiếu các nghiên cứu theo dõi dài hạn, đây là quyết định cần được xem xét hết sức thận trọng. (Xem phần ‘Tỷ lệ tử vong’ ở dưới.)

Khi sử dụng lưới lọc IVC loại có thể lấy ra, điều quan trọng là phải lập kế hoạch tháo bỏ lưới lọc ngay khi không còn cần bảo vệ (tức là khi bệnh nhân đã có thể điều trị chống đông). Mặc dù tỷ lệ thành công về mặt kỹ thuật khi thực hiện tháo lưới lọc là cao, nhưng một tỷ lệ lớn bệnh nhân không được lên lịch tháo lưới lọc vì nhiều lý do khác nhau. Ngay cả khi có điều kiện, hầu hết bệnh nhân vẫn không được tháo lưới lọc, chủ yếu do tiếp tục chăm sóc tại các cơ sở điều dưỡng dài hạn hoặc do vẫn còn chỉ định duy trì lưới lọc. (Xem phần ‘Các loại lưới lọc’ ở dưới.)

Biến chứng – Biến chứng của lưới lọc IVC có thể bao gồm huyết khối tĩnh mạch sâu tại vị trí đặt, huyết khối tĩnh mạch chủ dưới, thuyên tắc phổi tái phát, mòn, gãy hoặc di lệch lưới lọc. Di lệch có thể xảy ra do kẹt dây dẫn (guidewire) và vô tình làm tuột lưới lọc trong quá trình đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm. Nếu phẫu thuật viên gặp lực cản khi cố gắng rút dây dẫn ở bệnh nhân có đặt lưới lọc IVC, cần thực hiện chẩn đoán hình ảnh vùng bụng để đánh giá vị trí của dây dẫn so với lưới lọc. Dưới hướng dẫn của màn hình tăng sáng (fluoroscopy), dây dẫn thường có thể được tách ra khỏi lưới lọc và rút ra ngoài. (Xem phần ‘Biến chứng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here