Tử vong do loạn nhịp tim sau nhồi máu cơ tim
Việc điều trị thường quy cho bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim (MI) bằng thuốc chẹn kênh calci (CCB) là không cần thiết. CCB có thể mang lại lợi ích cho một số nhóm bệnh nhân chọn lọc, đặc biệt là những trường hợp nhồi máu không có sóng Q, không kèm suy tim và không thể sử dụng thuốc chẹn beta 25-27. Tuy nhiên, nếu có, mức độ cải thiện này là rất nhỏ. Ngoài ra, ở một số nhóm bệnh nhân, một số loại CCB nhất định có thể làm tăng tỷ lệ tử vong (xem “Tổng quan về quản lý không cấp tính nhồi máu cơ tim ST chênh lên” và “Tổng quan về quản lý không cấp tính nhồi máu cơ tim ST chênh lên”, phần về ‘Thuốc chẹn kênh canxi’ và “Các tác dụng phụ chính và độ an toàn của thuốc chẹn kênh canxi” và “Tổng quan về quản lý không cấp tính hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên” và “Tổng quan về quản lý không cấp tính hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên”, phần về ‘Thuốc chẹn kênh canxi’).
CCB có tác dụng đảo ngược tình trạng co thắt mạch vành và giảm tổn thương thiếu máu cục bộ cơ tim sau tắc nghẽn mạch vành trong các nghiên cứu thực nghiệm 28. Những quan sát này đã dẫn đến các nghiên cứu lâm sàng nhằm đánh giá liệu các thuốc này có giúp tăng tỷ lệ sống sót ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp hay không.
Nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng về CCB (diltiazem, verapamil và nifedipine) đã được phân tích 29,30. Không có thuốc nào cho thấy khả năng giảm tỷ lệ tử vong một cách rõ rệt và quyết định; trên thực tế, dữ liệu gộp từ 5 loại CCB cho thấy xu hướng bất lợi về tổng tỷ lệ tử vong, đặc biệt là với nhóm dihydropyridine tác dụng ngắn (hình 1). Điều này trái ngược hoàn toàn với lợi ích rõ rệt của các nhóm thuốc khác như chẹn beta, statin, aspirin và thuốc ức chế men chuyển (ACE inhibitors). (Xem “Tổng quan về quản lý cấp tính nhồi máu cơ tim ST chênh lên” và “Tổng quan về quản lý cấp tính các hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên”.)
TÓM TẮT
- Nhịp nhanh trên thất – Ngoài adenosine, các thuốc chẹn kênh calci (CCB) như diltiazem và verapamil là những lựa chọn ưu tiên để cắt cơn nhịp nhanh trên thất. (Xem ‘Nhịp nhanh trên thất’ ở dưới và “Nhịp nhanh vào lại nút nhĩ thất”.)
- Rung nhĩ và cuồng nhĩ – Diltiazem và verapamil có thể được sử dụng trong cả giai đoạn cấp tính (đường tĩnh mạch) và điều trị mạn tính (đường uống) để kiểm soát tần số thất trong rung nhĩ (AF), nhịp nhanh nhĩ và cuồng nhĩ. (Xem ‘Rung nhĩ và cuồng nhĩ’ ở dưới.)
- Nhịp nhanh phức bộ rộng – Đối với bệnh nhân nhịp nhanh phức bộ QRS rộng có khả năng là nhịp nhanh thất, nên tránh dùng CCB do nguy cơ gây suy giảm huyết động sau khi dùng thuốc. (Xem ‘Nhịp nhanh trên thất’ ở dưới và “Nhịp nhanh phức bộ QRS rộng: Tiếp cận quản lý”.)
- Chống chỉ định – Ở những bệnh nhân tụt huyết áp hoặc suy giảm chức năng thất, đặc biệt là những người có tiền sử suy tim, diltiazem và verapamil có thể gây hại và là chống chỉ định tương đối. Cần thận trọng khi sử dụng CCB cho bệnh nhân đang dùng thuốc chẹn beta do tác dụng hiệp đồng gây ức chế sức co bóp cơ tim (negative inotropic) và ức chế nhịp tim (negative chronotropic) của cả hai nhóm thuốc này. (Xem ‘Sử dụng lâm sàng’ ở dưới.)