TÓM TẮT
Các loại chuyển lưu nước tiểu – Chuyển lưu nước tiểu là một thủ thuật ngoại khoa nhằm thay đổi đường thoát nước tiểu bình thường ra khỏi cơ thể, tách rời khỏi bàng quang. Thủ thuật này thường được thực hiện sau phẫu thuật cắt bàng quang toàn bộ trong điều trị ung thư bàng quang xâm lấn kháng trị. Có ba hình thức chuyển lưu nước tiểu chính thường được áp dụng cho bệnh nhân cắt bàng quang (xem ‘Giới thiệu’ ở dưới):
- Ống dẫn ruột (thường là hồi tràng) – Là hình thức chuyển lưu ra da không tự chủ, trong đó nước tiểu từ niệu quản đi qua một đoạn ruột (thường là hồi tràng, gọi là ống dẫn hồi tràng) ra bề mặt da thông qua một lỗ mở ra da (stoma), sau đó được thu thập vào túi chứa hoặc thiết bị hỗ trợ bên ngoài.
- Chuyển lưu ra da tự chủ – Một túi chứa tự chủ dưới da có thể được tạo hình để tránh việc phải sử dụng thiết bị thu thập bên ngoài (thường sử dụng đại tràng phải và hồi tràng cuối). Bệnh nhân sẽ tự đặt thông tiểu định kỳ để làm rỗng túi chứa này.
- Bàng quang mới tại chỗ (Orthotopic neobladder) – Bàng quang mới được tạo hình từ một hoặc nhiều đoạn ruột và kết nối trực tiếp với niệu đạo, cho phép bệnh nhân đi tiểu qua đường niệu đạo tự nhiên. Các hình thức chuyển lưu tự chủ giúp cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống, hình ảnh bản thân và tăng mức độ chấp nhận phẫu thuật cắt bàng quang toàn bộ. Bàng quang mới có thể được tạo hình cho cả nam và nữ.
Mặc dù nối niệu quản – đại tràng sigma hiện nay hiếm khi được thực hiện, các lâm sàng vẫn có thể gặp những bệnh nhân đã phẫu thuật theo phương pháp này. Đây là hình thức chuyển lưu dễ gây ra các biến chứng chuyển hóa phổ biến và nghiêm trọng nhất (cũng như tăng nguy cơ ác tính).
Biến chứng thận và chuyển hóa trong chuyển lưu nước tiểu – Việc đưa một đoạn ruột vào đường tiết niệu có liên quan đến nhiều biến chứng thận tiềm tàng:
- Suy giảm chức năng thận: Chủ yếu do tắc nghẽn dòng nước tiểu. Nhiễm trùng đường tiết niệu và tăng azot máu trước thận cũng có thể góp phần gây suy chức năng thận. Các kỹ thuật chuyển lưu áp lực thấp, độ giãn nở cao sẽ làm giảm nguy cơ này. (Xem ‘Suy giảm chức năng thận’ ở dưới.)
- Nhiễm trùng đường tiết niệu. (Xem “Chuyển lưu và tái tạo đường tiết niệu sau cắt bàng quang”, phần ‘Biến chứng’.)
- Sỏi thận, chủ yếu là sỏi đường tiết niệu trên thành phần struvite. (Xem ‘Sỏi thận’ ở dưới.)
- Rối loạn chuyển hóa, bao gồm (xem ‘Rối loạn chuyển hóa’ ở dưới):
- Toan chuyển hóa, phổ biến nhất là toan chuyển hóa không tăng khoảng trống anion (toan tăng clo máu) (xem ‘Toan chuyển hóa’ ở dưới).
- Hạ kali máu (xem ‘Hạ kali máu’ ở dưới).
- Bệnh não do tăng amoni máu, thường gặp ở bệnh nhân có bệnh gan cấp hoặc mạn tính (xem ‘Bệnh não do tăng amoni máu’ ở dưới).
- Tăng kali máu và hạ natri máu nếu thực hiện nối niệu quản – hổng tràng (xem ‘Tăng kali máu và hạ natri máu trong nối niệu quản – hổng tràng’ ở dưới).
- Kiềm chuyển hóa nếu thực hiện tạo hình bàng quang từ dạ dày (xem ‘Kiềm chuyển hóa trong tạo hình bàng quang từ dạ dày’ ở dưới).
- Giảm khoáng xương (xem ‘Ảnh hưởng đến chuyển hóa khoáng chất’ ở dưới).
Toan chuyển hóa, hạ kali máu và bệnh não do tăng amoni máu là những biến chứng thường gặp nhất trong chuyển lưu nối niệu quản – đại tràng sigma.