Hội chứng chèn ép dây thần kinh trụ

Tóm tắt

Chèn ép thần kinh trụ xảy ra khi thần kinh trụ bị chèn ép, thường tại vị trí khuỷu tay hoặc cổ tay. Chèn ép tại khuỷu tay được gọi là hội chứng ống khuỷu; chèn ép tại cổ tay được gọi là hội chứng ống Guyon hoặc hội chứng ống thần kinh trụ. Tình trạng chèn ép gây ra dị cảm, tê bì và/hoặc đau dọc theo vùng phân bố của thần kinh trụ. Tùy thuộc vào vị trí chèn ép, bệnh nhân có thể xuất hiện yếu các cơ bàn tay nhất định. Bệnh lý thần kinh do chèn ép thần kinh trụ có thể được nghi ngờ dựa trên các triệu chứng lâm sàng, nhưng bắt buộc phải chẩn đoán xác định bằng điện cơ (EMG). Điều trị bảo tồn bao gồm sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), thay đổi hành vi và nẹp cố định. Các triệu chứng nghiêm trọng, kéo dài hoặc tiến triển xấu đi đòi hỏi phải phẫu thuật giải phóng chèn ép.

Tổng quan về chèn ép thần kinh trụ

Đường đi của thần kinh trụ

  • Thần kinh trụ xuất phát từ bó trong của đám rối cánh tay, bắt nguồn từ các rễ thần kinh C8–T1.
  • Từ đám rối cánh tay, thần kinh trụ đi qua rãnh nhị đầu trong và hạ thấp xuống mặt trong cánh tay, nằm ở phía trong động mạch cánh tay để đi đến khuỷu tay.
  • Đi qua rãnh ròng rọc khuỷu tại khuỷu tay
  • Đi vào lòng bàn tay qua ống Guyon.
  • Để biết thêm thông tin chi tiết về sự chi phối vận động và cảm giác, xem thêm "Thần kinh mạch máu chi trên."

Bệnh lý thần kinh trụ tại khuỷu tay và cổ tay

Thần kinh trụ thường bị chèn ép nhất tại hoặc gần ống khuỷu ở khuỷu tay và ống Guyon ở cổ tay.

Hội chứng ống khuỷu Hội chứng ống Guyon
Vị trí
  • Tại mỏm trên lồi cầu trong của xương cánh tay (ống khuỷu)
  • Tại cổ tay (bên trong ống Guyon)
Nguyên nhân
  • Gập khuỷu kéo dài hoặc các áp lực khác lên khuỷu tay:
    • Tỳ đè lên bàn làm việc
    • Chèn ép trong quá trình gây mê toàn thân
  • Chấn thương thể thao (ví dụ: bóng chày, thể hình)
  • Chấn thương đụng dập tại khuỷu tay
  • Các khối choán chỗ tại ống khuỷu (ví dụ: khối máu tụ)
  • Các bệnh lý chuyển hóa liên quan đến bệnh lý thần kinh (ví dụ: đái tháo đường)
  • Chấn thương thể thao, ví dụ:
    • Đi xe đạp (thường do áp lực trực tiếp từ ghi-đông)
    • Các môn thể thao dùng vợt
    • Xem thêm: ''Bệnh lý thần kinh do chèn ép trong thể thao.''
  • Chấn thương đụng dập tại cổ tay (ví dụ: gãy móc xương móc gây chèn ép ống Guyon)
  • Các khối choán chỗ tại ống Guyon (ví dụ: u nang hoạt dịch)
  • Dải xơ
  • Sự bám bất thường của cơ
  • Phình động mạch hoặc huyết khối động mạch trụ
Thiếu hụt vận động
  • Teo cơ và yếu cơ (ít phổ biến hơn triệu chứng cảm giác):
    • Giảm sự khéo léo
    • Giảm lực nắm
    • Khó khăn khi nâng đồ vật
  • Yếu và teo các cơ nội tại bàn tay được chi phối bởi thần kinh trụ
Thiếu hụt cảm giác
  • Dị cảm hoặc mất cảm giác ở mặt lòng và mặt lưng của phần trong bàn tay, ngón út và nửa trong ngón nhẫn
  • Đau lan lên cẳng tay
  • Dị cảm hoặc mất cảm giác ở mặt lòng và mặt lưng của phần trong bàn tay, ngón út và nửa trong ngón nhẫn

Đặc điểm lâm sàng

Triệu chứng vận động

  • Chèn ép tại khuỷu tay:
    • Ít phổ biến hơn so với các than phiền về cảm giác, mức độ từ yếu nhẹ đến nặng.
    • Teo cơ và yếu cơ:
      • Giảm sự khéo léo
      • Giảm lực nắm
      • Khó khăn khi nâng đồ vật
  • Chèn ép tại cổ tay: yếu và teo các cơ nội tại bàn tay do thần kinh trụ chi phối.

Triệu chứng cảm giác

  • Chèn ép tại khuỷu tay:
    • Dị cảm hoặc mất cảm giác ở mặt lòng và mặt lưng của phần trong bàn tay, ngón út và nửa trong ngón nhẫn.
    • Đau lan lên cẳng tay
  • Chèn ép tại cổ tay:
    • Dị cảm hoặc mất cảm giác thay đổi ở mặt lòng và mặt lưng của phần trong bàn tay, ngón út và nửa trong ngón nhẫn.
    • Chèn ép thần kinh trụ tại cổ tay được chia thành ba vùng và các dấu hiệu thăm khám thường tương ứng với vị trí tổn thương:
      • Vùng I: tổn thương nằm phía gần so với điểm phân nhánh của thần kinh trụ
        • Có thể có các triệu chứng vận động và cảm giác (ví dụ: mất cảm giác ở mặt lòng ngón út và phần trong của ngón nhẫn).
        • Đặc điểm cảm giác tương tự như tổn thương phía gần tại khuỷu tay.
      • Vùng II: tổn thương tại nhánh vận động sâu chỉ gây ra các triệu chứng vận động.
      • Vùng III: tổn thương tại nhánh cảm giác xa chỉ gây ra các triệu chứng cảm giác.

Thăm khám thực thể

  • Bàn tay vuốt trụ (Ulnar claw):
    • Liệt cơ giun 3 và 4 nhưng chức năng các cơ gấp ngoại lai vẫn được bảo tồn
    • Xuất hiện ở trạng thái nghỉ, tăng lên khi yêu cầu bệnh nhân duỗi các ngón tay.
    • Chủ yếu gặp trong các tổn thương thần kinh trụ đoạn xa.
  • Nghiệm pháp Froment :
    • Gấp ngón cái tại khớp liên đốt gần khi ép chặt đầu ngón trỏ và ngón cái vào nhau, hoặc khi khép chặt ngón cái vào xương bàn tay thứ 2 (ví dụ: kẹp một mảnh giấy).
    • Do yếu cơ khép ngón cái và sự hoạt động không đối kháng của cơ gấp dài ngón cái.
  • Dấu hiệu Wartenberg:
    • Ngón út ở trạng thái dạng liên tục.
    • Do yếu cơ gian cốt lòng bàn tay thứ ba.
  • Dấu hiệu Jeanne:
    • Quá duỗi khớp bàn-ngón (MCP) của ngón cái khi thực hiện động tác kẹp (key pinch).
    • Do mất chức năng cơ khép ngón cái và sự ưu thế của cơ duỗi dài ngón cái và cơ dạng ngắn ngón cái.
  • Dấu hiệu Tinel: gõ vào mỏm trên lồi cầu trong của xương cánh tay gây dị cảm rõ rệt ở phần thần kinh trụ của bàn tay

Biến dạng bàn tay vuốt trụ chủ yếu gặp trong các tổn thương thần kinh trụ đoạn xa, trong khi khó khăn khi nắm chặt tay thường xảy ra trong các tổn thương thần kinh trụ đoạn gần.

Cả tổn thương đoạn gần và đoạn xa của thần kinh trụ đều dẫn đến biến dạng bàn tay vuốt trụ.

Chẩn đoán

  • Thăm dò điện chẩn đoán (đo dẫn truyền thần kinh và điện cơ): xác định mức độ chèn ép thần kinh.
  • Siêu âm và MRI: xác nhận các kết quả điện cơ và xác định nguyên nhân gây chèn ép.

Điều trị

  • Điều trị bảo tồn:
    • Thay đổi hành vi (ví dụ: tránh tỳ đè khuỷu tay kéo dài, tránh gập khuỷu tay lặp đi lặp lại).
    • Giảm đau (ví dụ: NSAIDs).
    • Nẹp cố định vào ban đêm.
  • Phẫu thuật giải phóng chèn ép: nếu các triệu chứng lâm sàng nghiêm trọng, kéo dài (tức là kéo dài hơn 6 đến 12 tuần) hoặc tiến triển xấu đi mặc dù đã điều trị bảo tồn.