Tóm tắt
Hội chứng ruột kích thích (IBS) là một tình trạng mãn tính rất phổ biến ở Bắc Mỹ và Châu Âu. Sinh lý bệnh cơ bản của bệnh được cho là bao gồm những thay đổi về vận động đường tiêu hóa, tăng nhạy cảm tạng và thay đổi tính thấm đường tiêu hóa. Bệnh nhân thường biểu hiện với tình trạng đau bụng tái diễn kèm theo thay đổi về tần suất, hình dạng và/hoặc tính chất phân. IBS là một chẩn đoán lâm sàng dựa trên tiêu chuẩn Rome IV đối với IBS và loại trừ các chẩn đoán phân biệt khác. Điều trị không dùng thuốc bao gồm thay đổi chế độ ăn uống (ví dụ: tránh các thực phẩm gây khởi phát triệu chứng) và các liệu pháp tâm lý hành vi. Các liệu pháp dùng thuốc như loperamide, thuốc nhuận tràng và lubiprostone lần lượt được chỉ định điều trị cho triệu chứng tiêu chảy, táo bón và các triệu chứng chung của IBS.
Dịch tễ học
- Tỷ lệ hiện mắc: 10–20% ở Bắc Mỹ và Châu Âu (chiếm 20–50% các ca chuyển tuyến đến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa)
- Giới tính: Ở các nước phương Tây, phụ nữ có khả năng bị ảnh hưởng cao gấp 1,5–2 lần so với nam giới.
- Tuổi: Tỷ lệ hiện mắc cao nhất ở những cá nhân từ 20–39 tuổi
- Các bệnh lý kèm theo
- Các hội chứng đau thể chất: hội chứng đau xơ cơ, hội chứng mệt mỏi mạn tính, đau ngực chức năng
- Rối loạn tâm thần: rối loạn trầm cảm chủ yếu, rối loạn lo âu, rối loạn dạng cơ thể
- Rối loạn tiêu hóa: bệnh trào ngược dạ dày thực quản, chứng khó tiêu chức năng
Sinh lý bệnh
Hội chứng ruột kích thích là một rối loạn chức năng đường tiêu hóa mà không có nguyên nhân thực thể cụ thể. Các cơ chế sinh lý bệnh dẫn đến IBS rất đa dạng và hiện vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Những đặc điểm thường gặp nhất liên quan đến IBS bao gồm:
- Thay đổi vận động đường tiêu hóa
- Tăng nhạy cảm tạng/tăng cảm đau
- Thay đổi tính thấm của niêm mạc đường tiêu hóa
- Các khía cạnh tâm lý xã hội
Đặc điểm lâm sàng
Hội chứng ruột kích thích (IBS) đặc trưng bởi tình trạng đau bụng mạn tính và thay đổi thói quen đại tiện (xem thêm “tiêu chuẩn Rome IV cho IBS”).
- Đau bụng
- Tần suất, cường độ và vị trí thường thay đổi tùy theo từng bệnh nhân
- Thường liên quan đến việc đại tiện
- Thay đổi thói quen đại tiện: tiêu chảy và/hoặc táo bón
- Các triệu chứng tiêu hóa khác
- Buồn nôn, trào ngược, no sớm
- Đi ngoài ra chất nhầy, chướng bụng
- Các triệu chứng ngoài đường tiêu hóa
- Các triệu chứng cơ thể toàn thân (ví dụ: đau hoặc mệt mỏi, như trong hội chứng đau xơ cơ)
- Rối loạn chức năng tình dục
- Đau bụng kinh
- Tăng tần suất đi tiểu và mót tiểu
- Khám thực thể: bình thường
Phân loại
Có một vài phân nhóm của hội chứng ruột kích thích, được định nghĩa dựa trên tính chất phân.
- IBS-D: tiêu chảy là triệu chứng chiếm ưu thế
- IBS-C: táo bón là triệu chứng chiếm ưu thế
- IBS‑M: hỗn hợp tiêu chảy và táo bón
- IBS-U: đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng ruột kích thích nhưng thói quen đi tiêu không thể phân loại vào các nhóm nêu trên
Chẩn đoán
Hội chứng ruột kích thích là một chẩn đoán lâm sàng (sử dụng tiêu chuẩn Rome IV cho IBS). Các thăm dò chẩn đoán hạn chế được khuyến cáo với mục đích chính là để loại trừ các chẩn đoán phân biệt.
Tiếp cận
- Đánh giá theo các tiêu chuẩn chẩn đoán IBS.
- Sàng lọc các dấu hiệu cảnh báo (xem phần “Chẩn đoán phân biệt”).
- Thực hiện các cận lâm sàng chẩn đoán hạn chế để loại trừ các chẩn đoán khác.
Sự thay đổi cấp tính trong thói quen đại tiện, các dấu hiệu chảy máu tiêu hóa rõ rệt, hoặc các dấu hiệu cảnh báo khác của ung thư đại trực tràng cần phải được đánh giá chẩn đoán sâu hơn.
Tiêu chuẩn Rome IV đối với hội chứng ruột kích thích
Tất cả các tiêu chuẩn sau đây phải được đáp ứng để chẩn đoán IBS.
- Thời điểm: Triệu chứng khởi phát ≥ 6 tháng
- Triệu chứng
- Đau bụng tái diễn (≥ 1 ngày mỗi tuần trong 3 tháng gần đây)
- CỘNG VỚI ≥ 2 trong các đặc điểm sau
- Đau bụng liên quan đến việc đại tiện
- Thay đổi tần suất đại tiện
- Thay đổi hình thái phân
Xét nghiệm cận lâm sàng
Các xét nghiệm sau đây nên được cân nhắc thường quy để loại trừ các nguyên nhân khác :
- Tất cả bệnh nhân: Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi (thiếu máu cần được đánh giá thêm)
- Ở bệnh nhân tiêu chảy
- Calprotectin trong phân và CRP
- Xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán bệnh Celiac
- Xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng Giardia
- Ở bệnh nhân có triệu chứng và tiền sử liên quan
- Xét nghiệm chức năng tuyến giáp
- Chẩn đoán viêm dạ dày ruột nhiễm trùng
Nội soi đại tràng
- Chỉ được khuyến cáo cho các bệnh nhân:
- Có các dấu hiệu cảnh báo ung thư đại trực tràng
- Đến tuổi sàng lọc ung thư đại trực tràng theo khuyến cáo
Chẩn đoán phân biệt
| Tổng quan về các chẩn đoán phân biệt thường gặp | |||
|---|---|---|---|
| Bệnh lý | Biểu hiện tổng quát | Đau | Thói quen đại tiện |
| Hội chứng ruột kích thích |
|
|
|
| Bệnh Crohn |
|
|
|
| Viêm đại tràng loét |
|
|
|
| Ung thư biểu mô đại trực tràng |
|
|
|
Triệu chứng báo động: tiêu chảy về đêm và đau bụng, sốt, phân máu, sụt cân và khởi phát triệu chứng cấp tính.
Các chẩn đoán phân biệt khác cần xem xét
- Viêm dạ dày ruột do vi khuẩn hoặc virus
- Suy giáp/cường giáp
- Bệnh Celiac
- Không dung nạp lactose
- Hội chứng phát triển quá mức vi khuẩn ruột non (SIBO)
- Xem thêm: “Chẩn đoán phân biệt đau bụng cấp”
- Xem thêm: “Nguyên nhân gây tiêu chảy mạn”
- Xem thêm: “Nguyên nhân gây táo bón”
Các chẩn đoán phân biệt liệt kê ở đây không bao gồm tất cả các khả năng.
Điều trị
Hiện nay, không có phương pháp điều trị khỏi hoàn toàn hội chứng ruột kích thích (IBS). Việc quản lý tập trung vào điều trị các triệu chứng đi kèm.
Điều trị không dùng thuốc
- Điều chỉnh chế độ ăn uống
- Bổ sung chất xơ hòa tan (ví dụ: psyllium)
- Tránh các thực phẩm gây kích ứng (ví dụ: thử nghiệm chế độ ăn loại trừ)
- Chế độ ăn ít FODMAP: chế độ ăn hạn chế các oligosaccharide, disaccharide, monosaccharide và polyol có thể lên men
- Cân nhắc sự hỗ trợ của một chuyên gia dinh dưỡng.
- Thay đổi lối sống
- Hoạt động thể chất thường xuyên
- Kiểm soát căng thẳng (ví dụ: các kỹ thuật thư giãn)
- Liệu pháp tâm lý hành vi
- Chăm sóc lấy bệnh nhân làm trung tâm, xây dựng liên minh điều trị chặt chẽ
- Tâm lý trị liệu hướng ruột (ví dụ: liệu pháp nhận thức hành vi và liệu pháp thôi miên)
- Liệu pháp hỗ trợ: tinh dầu bạc hà để giảm các triệu chứng tổng thể
Chế độ ăn loại trừ hạn chế các oligosaccharide, disaccharide, monosaccharide và polyol có thể lên men (tức là chế độ ăn ít FODMAP) nên được thực hiện với sự hỗ trợ của chuyên gia dinh dưỡng để tránh thiếu hụt dinh dưỡng.
Điều trị bằng thuốc
- Bằng chứng về liệu pháp dùng thuốc còn chưa thống nhất và các khuyến cáo có sự khác biệt giữa các hướng dẫn điều trị.
- Tham vấn chuyên gia đối với các triệu chứng kháng trị và/hoặc điều trị dài hạn.
Tiêu chảy
- Loperamide
- Rifaximin
- Các thuốc thay thế: bao gồm alosetron (một chất đối kháng chọn lọc thụ thể 5-HT3), eluxadoline (chất đồng vận/đối kháng opioid)
Khi điều trị tiêu chảy liên quan đến IBS, cần thận trọng để tránh tác dụng phụ gây táo bón, đặc biệt ở bệnh nhân IBS thể hỗn hợp (IBS-M) hoặc IBS không phân loại (IBS-U).
Táo bón
- Polyethylene glycol (PEG)
- Các thuốc thay thế:
- Thuốc kích thích bài tiết ruột
- Tenapanor
- Một chất ức chế protein vận chuyển ngược natri-hydro 3 (NHE3)
- Làm tăng tiết nước vào lòng ruột và có tác dụng giảm đau.
- Tegaserod: một chất đồng vận một phần thụ thể 5-HT4
Đau bụng
Các thuốc sau đây có thể được cân nhắc để điều trị đau bụng đi kèm:
- Thuốc chống co thắt: ví dụ: dicyclomine, hyoscyamine
- Thuốc chống trầm cảm ba vòng: ví dụ: amitriptyline (sử dụng ngoài chỉ định – off-label)
Hướng xử trí
- IBS có thể được quản lý ngoại trú; cần sắp xếp theo dõi sát.
- Hướng dẫn bệnh nhân các dấu hiệu cần tái khám ngay nếu xuất hiện các dấu hiệu báo động (xem phần “Đặc điểm lâm sàng”).
Tài liệu đọc thêm
- ACG Clinical Guideline: Management of Irritable Bowel Syndrome
- AGA Clinical Practice Guideline on the Pharmacological Management of Irritable Bowel Syndrome With Constipation
- AGA Clinical Practice Guideline on the Pharmacological Management of Irritable Bowel Syndrome With Diarrhea
- AGA Clinical Practice Guidelines on the Laboratory Evaluation of Functional Diarrhea and Diarrhea-Predominant Irritable Bowel Syndrome in Adults (IBS-D)
- Rome IV criteria