Tình huống
Bệnh nhân nam, 26 tuổi, có tiền sử rối loạn co giật và không tuân thủ điều trị, nhập viện sau một cơn co cứng – co giật toàn thể. Theo người chứng kiến, bệnh nhân bị mất ý thức và ngã từ thang cao 4,5 mét xuống đất, va đập vùng hông phải; cơn co giật kéo dài khoảng 2 phút. Đánh giá tại khoa cấp cứu ghi nhận nồng độ levetiracetam (thuốc chống co giật đang sử dụng) trong máu thấp và gãy xương đùi phải di lệch. Không ghi nhận chấn thương nào khác hoặc bất thường trên các xét nghiệm cận lâm sàng. Bệnh nhân được dùng lại levetiracetam và thực hiện phẫu thuật kết hợp xương đùi bằng đinh nội tủy, quá trình mổ không có biến chứng. Ngày hôm sau, bệnh nhân xuất hiện tình trạng lú lẫn. Ghi nhận dấu hiệu sinh tồn: nhiệt độ 37,2°C, huyết áp 142/86 mmHg, mạch 102 lần/phút, nhịp thở 28 lần/phút. Độ bão hòa oxy (SpO2) là 90% khi thở khí phòng. Khám thực thể: bệnh nhân mất định hướng nhưng không có yếu liệt khu trú hay mất cảm giác. Không có phát ban hoặc khối máu tụ tại vị trí phẫu thuật. Các thăm khám khác không ghi nhận bất thường. Kết quả xét nghiệm: Công thức máu: Hemoglobin 124 g/L, Tiểu cầu 103 x 10^9/L, Bạch cầu 9 x 10^9/L. Hóa sinh máu: Natri 136 mmol/L, Bicarbonate 24 mmol/L, Creatinine 70 µmol/L, Glucose 6,5 mmol/L. Khí máu động mạch: pH 7,47, PaO2 58 mmHg (7,7 kPa), PaCO2 34 mmHg (4,5 kPa). Chụp cắt lớp vi tính (CT) động mạch phổi cho thấy các vùng hình kính mờ rải rác hai bên nhưng không có hình khuyết thuốc trong mạch máu phổi. Nguyên nhân nào sau đây là có khả năng nhất gây ra tình trạng hiện tại của bệnh nhân?