Một người đàn ông 74 tuổi đến khám vì tình trạng khó thở tăng dần, đặc biệt là khi gắng sức (S5941)

Tình huống

Một người đàn ông 74 tuổi đến khám vì tình trạng khó thở tăng dần, đặc biệt là khi gắng sức. Bệnh nhân cũng bị ho kèm khạc đờm nhầy, thường xuất hiện nhiều vào buổi sáng. Bệnh nhân không có khó thở khi nằm, không khó thở kịch phát về đêm hay đau ngực. Tiền sử ghi nhận một lần nhập viện vì viêm phổi cộng đồng cách đây 2 năm. Các bệnh lý kèm theo bao gồm glaucoma, tăng sản tuyến tiền liệt lành tính và tăng huyết áp. Bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá 40 gói-năm và đã bỏ thuốc được 2 năm. Ghi nhận lúc khám: nhiệt độ 37,2°C, huyết áp 144/96 mmHg, mạch 82 lần/phút và nhịp thở 16 lần/phút. Độ bão hòa oxy (SpO2) đo được là 89% khi nghỉ ngơi với khí trời. Vẻ mặt bệnh nhân đỏ bừng, sung huyết. Lồng ngực hình thùng (tăng đường kính trước-sau). Rì rào phế nang giảm toàn bộ hai phế trường và thời kỳ thở ra kéo dài. Tiếng tim xa nhưng đều, không có tiếng thổi hay tiếng ngựa phi. Không có phù ngoại vi hay tĩnh mạch cổ nổi. Kết quả xét nghiệm như sau:

Tổng phân tích tế bào máu: Hematocrit 58%, Hemoglobin 18,2 g/dL, Tiểu cầu 240.000/mm³, Bạch cầu 7.500/mm³. Sinh hóa huyết thanh: Natri 140 mEq/L, Kali 4,2 mEq/L, Nitơ urê máu (BUN) 6,4 mmol/L, Creatinine 106 µmol/L

Can thiệp nào sau đây sẽ có tác động tối đa đến tỷ lệ sống sót của bệnh nhân này?