Tình huống
Một phụ nữ 28 tuổi mắc bệnh hồng cầu hình liềm (sickle cell disease) được gây chuyển dạ và sinh ngả âm đạo. Sau khi sổ nhau, bệnh nhân bị băng huyết sau sinh dữ dội với các cục máu đông lớn. Bệnh nhân được điều trị bằng oxytocin liều cao và nhiều thuốc co hồi tử cung khác nhưng tình trạng chảy máu không thuyên giảm. Mười phút sau, bệnh nhân đột ngột xuất hiện tình trạng khó thở và đau ngực. Huyết áp 70/40 mmHg, nhịp tim 118 lần/phút, nhịp thở 28 lần/phút. Khám tim ghi nhận nhịp nhanh xoang. Khám phổi ghi nhận thở nhanh, rì rào phế nang êm dịu, không có rale. Tử cung mềm và căng trên rốn, bệnh nhân vẫn tiếp tục chảy máu âm đạo nhiều. Kết quả xét nghiệm như sau:
Công thức máu: Hemoglobin 60 g/L, Tiểu cầu 80 G/L, Bạch cầu 8,2 G/L. Chức năng gan: Bilirubin toàn phần 56,4 $\mu$mol/L, Bilirubin trực tiếp 6,8 $\mu$mol/L. Xét nghiệm đông máu: INR 1,6, Thời gian Prothrombin (PT) 17 giây, aPTT 53 giây.
Nguyên nhân nào sau đây là khả năng cao nhất gây ra tình trạng suy sụp cấp tính ở bệnh nhân này?