Tình huống
Một phụ nữ 65 tuổi đến khám sau khi kết quả đo mật độ xương (DXA) sàng lọc cho thấy bệnh nhân bị loãng xương. Bệnh nhân thỉnh thoảng bị đau lưng và đau hông nhưng chưa từng bị ngã hay gãy xương. Bệnh nhân không có tiền sử bệnh lý đáng kể và không dùng thuốc. Mẹ của bệnh nhân có tiền sử loãng xương. Bệnh nhân không hút thuốc, không uống rượu hay sử dụng chất kích thích. Bà đi bộ khoảng 1,6 – 3,2 km mỗi ngày và có chế độ ăn uống cân bằng. Các dấu hiệu sinh tồn trong giới hạn bình thường. BMI là 23 kg/m2. Khi thăm khám lâm sàng, ghi nhận tình trạng ấn đau cột sống không khu trú. Các thăm khám khác không phát hiện bất thường. Kết quả xét nghiệm như sau:
- Tổng phân tích tế bào máu: Hemoglobin 104 g/L, Thể tích trung bình hồng cầu (MCV) 90 µm3, Tiểu cầu 150.000/mm3, Bạch cầu 7.500/mm3
- Sinh hóa huyết thanh: Natri 136 mEq/L, Kali 4,1 mEq/L, Creatinine 168 µmol/L, Canxi 2,7 mmol/L
- Xét nghiệm chức năng gan: Protein toàn phần 81 g/L, Albumin 31 g/L, Phosphatase kiềm 70 U/L, Aspartate aminotransferase 36 U/L, Alanine aminotransferase 28 U/L
- 25-Hydroxyvitamin D 62,5 nmol/L (bình thường: 37,5-200)
- Hormone tuyến cận giáp (PTH) 8 pg/mL (bình thường: 10-65)
Bước tiếp theo tốt nhất trong quản lý bệnh nhân này là gì?