Tình huống
Một phụ nữ 80 tuổi được đưa đến khoa cấp cứu trong tình trạng tri giác lờ đờ và lú lẫn một ngày nay. Tiền sử bệnh lý của bệnh nhân bao gồm: tăng huyết áp, đái tháo đường type 2, bệnh mạch vành, bệnh mạch máu ngoại biên và từng bị đột quỵ. Bà có tiền sử hút thuốc lá trong 30 năm nhưng đã bỏ từ 10 năm trước sau một cơn nhồi máu cơ tim. Bệnh nhân nằm liệt giường trong 2 năm qua do di chứng đột quỵ. Hiện tại, nhiệt độ cơ thể 37,6°C, huyết áp 74/48 mmHg, mạch 124 lần/phút và nhịp thở 24 lần/phút. Khám lâm sàng ghi nhận một vết loét tì đè vùng xương cùng có dịch tiết mủ và đỏ da xung quanh. Có biểu hiện ứ máu tĩnh mạch mạn tính ở cả hai chi dưới. Khám thần kinh cho thấy bệnh nhân lú lẫn, không thể thực hiện theo các chỉ dẫn. Kết quả xét nghiệm như sau:
Hóa sinh máu: Natri 134 mEq/L, Kali 4,2 mEq/L, Clorua 100 mEq/L, Bicarbonat 19 mEq/L, Ure 7,1 mmol/L, Creatinin 194 μmol/L, Glucose 13,9 mmol/L.
Theo dõi huyết động xâm lấn cho thấy áp lực mao mạch phổi bít (PCWP) là 6 mmHg (bình thường: 6-12 mmHg) và độ bão hòa oxy tĩnh mạch trung tâm (SvO2) là 82% (bình thường: 60%-80%). Nguyên nhân nào sau đây có khả năng nhất gây ra tình trạng hạ huyết áp của bệnh nhân này?