Mật độ nhu mô vú và sàng lọc ung thư vú

TÓM TẮT

Phân loại đậm độ vú – Về cơ bản, thuật ngữ “vú đậm độ cao” dùng để chỉ vú có đậm độ không đồng nhất hoặc đậm độ rất cao (nhóm C hoặc D theo Hệ thống Báo cáo và Dữ liệu Hình ảnh Tuyến vú – BI-RADS, phiên bản thứ 5). Thực tế ghi nhận có sự sai khác đáng kể giữa các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh trong việc phân loại các mức độ đậm độ vú. (Xem thêm ‘phân loại BI-RADS’ ở dưới.)

Các yếu tố ảnh hưởng đến đậm độ vú – Đậm độ vú là một phát hiện bình thường trên nhũ ảnh. Có nhiều yếu tố góp phần tạo nên đậm độ vú ở phụ nữ, bao gồm tuổi tác, di truyền, thể trạng, số lần sinh con, việc sử dụng estrogen và chu kỳ kinh nguyệt. Khoảng 50% phụ nữ chụp nhũ ảnh có đậm độ vú cao, trong đó có tới 44% phụ nữ ở độ tuổi 60. (Xem thêm ‘Các yếu tố ảnh hưởng đến đo lường đậm độ vú’ ở dưới.)

Đậm độ vú và nguy cơ ung thư vú – Sự hiện diện của mô vú đậm độ cao trên nhũ ảnh làm giảm độ nhạy của phương pháp này và là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với ung thư vú, do hầu hết các khối u phát triển trong nhu mô tuyến. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của đậm độ vú đối với nguy cơ ung thư vú vẫn chưa được xác định một cách tuyệt đối, và việc tăng đậm độ vú không liên quan đến việc tăng tỷ lệ tử vong do ung thư vú. (Xem thêm ‘Đậm độ vú và nguy cơ ung thư vú’ ở dưới.)

Chẩn đoán hình ảnh cho phụ nữ có đậm độ vú cao

  • Chụp nhũ ảnh kỹ thuật số – Nhũ ảnh kỹ thuật số có độ nhạy cao hơn nhũ ảnh phim đối với vú đậm độ cao và được ưu tiên lựa chọn khi có sẵn cho những phụ nữ có đậm độ vú tăng. So với nhũ ảnh kỹ thuật số, chụp cắt lớp vi tính vú (DBT) có thể làm giảm tỷ lệ triệu tập bệnh nhân quay lại kiểm tra nhưng có thể làm tăng nhẹ liều lượng bức xạ tùy thuộc vào loại máy DBT được sử dụng. (Xem thêm ‘Nhũ ảnh kỹ thuật số’ ở dưới.)
  • DBT – Đối với phụ nữ có đậm độ vú cao, các dữ liệu hiện có còn hạn chế để khẳng định DBT ưu việt hơn nhũ ảnh tiêu chuẩn, đặc biệt là ở những người có đậm độ vú không đồng nhất, mặc dù đây chưa phải là tiêu chuẩn chăm sóc chính thức. Tuy nhiên, DBT mang lại một số lợi ích nhất định so với nhũ ảnh kỹ thuật số cho những bệnh nhân có đậm độ vú rất cao kèm theo nguy cơ ung thư vú tăng. Nếu không tiếp cận được với DBT, chụp nhũ ảnh tầm soát vẫn là tiêu chuẩn chăm sóc. (Xem thêm ‘Chụp cắt lớp vi tính vú (DBT)’ ở dưới)
  • Không nên chỉ dựa vào đậm độ vú để quyết định nhu cầu tầm soát bổ sung – Không có hướng dẫn tầm soát ung thư vú chính thống nào khuyên dùng đậm độ vú làm yếu tố duy nhất để quyết định thực hiện các xét nghiệm tầm soát bổ sung ngoài nhũ ảnh. Các bằng chứng y khoa và hướng dẫn đồng thuận của chuyên gia ủng hộ việc xác định nguy cơ ung thư vú của từng bệnh nhân, từ đó sử dụng thông tin phân tầng nguy cơ này để tư vấn cho bệnh nhân. (Xem thêm ‘Đậm độ vú và tầm soát bổ sung ung thư vú’ ở dưới.)
  • Vai trò của siêu âm toàn bộ tuyến vú trong tầm soát bổ sung – Hiện chưa có các nghiên cứu tiền cứu quy mô lớn để ủng hộ việc tầm soát bằng siêu âm toàn bộ tuyến vú cho những phụ nữ có nguy cơ trung bình nhưng có đậm độ vú cao trên nhũ ảnh. Mặc dù vậy, tại Hoa Kỳ, nhiều bang đã thông qua luật về đậm độ vú, yêu cầu bệnh nhân phải được thông báo về đậm độ vú của họ, việc mô vú đậm độ cao có thể là một yếu tố nguy cơ của ung thư vú và có thể gây cản trở việc phát hiện ung thư. Một số luật khuyến nghị cụ thể việc tầm soát bổ sung bằng siêu âm, nhưng chỉ một số bang bắt buộc bảo hiểm chi trả cho xét nghiệm bổ sung này. (Xem thêm ‘Đậm độ vú và tầm soát bổ sung ung thư vú’‘Luật pháp tại Hoa Kỳ’ ở dưới.)
  • Vai trò của MRI trong tầm soát bổ sung – Tầm soát bổ sung bằng MRI bị hạn chế do tỷ lệ dương tính giả cao, chi phí đắt đỏ, khả năng tiếp cận hạn chế và nguy cơ phản ứng bất lợi với thuốc đối quang từ. (Xem thêm ‘Chụp cộng hưởng từ (MRI)’ ở dưới.)

Khuyến nghị về tầm soát bổ sung

  • Đối với người có đậm độ vú cao và nguy cơ ung thư vú thấp/trung bình – Chúng tôi đề nghị hầu hết phụ nữ có đậm độ vú cao mà không có thêm yếu tố nguy cơ ung thư vú (tức là nguy cơ trung bình hoặc thấp) không cần thực hiện tầm soát bổ sung (Khuyến cáo 2C). Sau khi thảo luận về những rủi ro và lợi ích tiềm tàng của việc tầm soát (bảng 1), một số phụ nữ có thể lựa chọn không tầm soát bổ sung, trong khi những người khác vẫn muốn thực hiện. Đối với những phụ nữ nhóm nguy cơ trung bình và thấp chọn tầm soát bổ sung, siêu âm hoặc MRI là các lựa chọn phù hợp. (Xem thêm ‘Phân tầng nguy cơ cho tầm soát bổ sung’ ở dưới.)
  • Đối với người có đậm độ vú cao và nguy cơ ung thư vú trung bình (15% đến 20% trong suốt cuộc đời) – Hiện chưa có hướng dẫn đồng thuận nào về việc khuyến nghị hoặc phản đối tầm soát bổ sung cho phụ nữ có đậm độ vú cao và nguy cơ ung thư vú trung bình. Với nhóm này, siêu âm hoặc MRI là các lựa chọn để tầm soát bổ sung. (Xem thêm ‘Nguy cơ trung bình (15% đến 20% trong suốt cuộc đời)’ ở dưới.)
  • Đối với người có đậm độ vú cao và nguy cơ ung thư vú cao (>20% trong suốt cuộc đời) – Tầm soát bổ sung định kỳ bằng MRI vú, như một phương pháp hỗ trợ cho nhũ ảnh, được khuyến nghị cho tất cả phụ nữ có nguy cơ suốt đời >20%, bất kể đậm độ vú. (Xem thêm ‘Nguy cơ cao (>20% trong suốt cuộc đời)’ ở dưới và ‘Nguy cơ ung thư ở người mang đột biến BRCA1/2’, phần ‘Theo dõi ung thư’.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here