TÓM TẮT
Định nghĩa – Băng huyết sau sinh (PPH) thứ phát hoặc muộn thường được định nghĩa là tình trạng chảy máu tử cung đáng kể xảy ra trong khoảng thời gian từ 24 giờ đến 12 tuần sau sinh. (Xem thêm mục ‘Định nghĩa/Chẩn đoán’ ở dưới.)
Nguyên nhân – Các nguyên nhân phổ biến nhất gây băng huyết sau sinh thứ phát bao gồm sót sản dịch/sót nhau (bao gồm cả nhau cài răng lược khu trú), sự chậm hồi phục của vùng bám nhau và/hoặc nhiễm trùng. (Xem thêm mục ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)
Các nguyên nhân ít gặp hoặc hiếm gặp của băng huyết sau sinh thứ phát bao gồm (xem mục ‘Nguyên nhân’ ở dưới):
- Rối loạn đông máu do di truyền hoặc mắc phải, bao gồm cả các thuốc làm tăng nguy cơ chảy máu
- Giả phồng động mạch tử cung, động mạch thẹn trong, động mạch âm đạo hoặc động mạch môi lớn
- Thông động tĩnh mạch
- Ung thư tế bào nuôi (Choriocarcinoma)
- Ung thư cổ tử cung chưa được chẩn đoán
- Lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung (Adenomyosis)
- Polyp tử cung hoặc u xơ dưới niêm mạc bị nhiễm trùng
- Túi thừa tử cung
- Chảy máu quá mức khi bắt đầu có kinh trở lại
- Thiếu hụt estrogen (Hypoestrogenism)
- Hở sẹo mổ lấy thai
- Trong một số trường hợp, không thể xác định được nguyên nhân.
Xử trí
Ổn định tình trạng bệnh nhân – Nếu bệnh nhân không ổn định về huyết động, ưu tiên hàng đầu là hồi sức và ổn định. Những bệnh nhân này cần được đánh giá tại cơ sở có đủ điều kiện can thiệp ngoại khoa cho đến khi tình trạng ổn định để có thể chuyển đến đơn vị chăm sóc cấp độ thấp hơn.
Đối với bệnh nhân băng huyết sau sinh thứ phát trong vài tuần đầu sau sinh, buồng tử cung có thể còn đủ lớn để đặt thiết bị chèn bóng (balloon tamponade), điều này giúp hạn chế chảy máu trong khi chờ đánh giá chẩn đoán. (Xem thêm mục ‘Bệnh nhân không ổn định về huyết động’ ở dưới.)
Xác định và điều trị nguyên nhân gây chảy máu – Đối với bệnh nhân ổn định, ưu tiên hàng đầu là thực hiện các đánh giá chẩn đoán để tìm nguyên nhân. Việc điều trị sẽ căn cứ theo nguyên nhân gây chảy máu (sơ đồ 1). Trong những trường hợp khó xác định nguồn chảy máu, chụp CT mạch máu chậu (CTA) hoặc chụp cộng hưởng từ mạch máu (MR/MRA) có thể giúp phát hiện các bất thường mạch máu để tiến hành điều trị đồng thời bằng phương pháp nút mạch hoặc đặt stent có màng bao. (Xem thêm mục ‘Xử trí’ ở dưới.)
Vai trò của phẫu thuật – Các thủ thuật ngoại khoa (nong và nạo tử cung, nạo hút tử cung) thường đem lại hiệu quả khi điều trị nội khoa thất bại, ngay cả khi không phát hiện được các mảnh nhau hoặc màng nhau sót qua siêu âm. Nút mạch động mạch là một lựa chọn khác. Cần lưu ý rằng, do hệ thống mạch máu vùng chậu và tầng sinh môn trong thai kỳ rất phong phú, việc nút một động mạch cung cấp cho âm đạo, môi lớn hoặc xử lý một giả phồng động mạch đơn độc ít khi gây ra tình trạng thiếu máu cục bộ hoặc hoại tử vùng âm đạo và tầng sinh môn. (Xem thêm mục ‘Sự chậm hồi phục của vùng bám nhau’ ở dưới.)