Bệnh nhiễm sắc tố lipo nơ-ron (NCL)

TÓM TẮT

Bệnh thoái hóa thần kinh ceroid lipofuscin (NCL) là một nhóm các bệnh lý lysosome đặc trưng bởi tình trạng thoái hóa thần kinh tiến triển.

Ban đầu, NCL được chia thành bốn thể điển hình:

  • NCL thể nhũ nhi (bệnh Haltia-Santavuori)
  • NCL thể nhũ nhi muộn (bệnh Janský-Bielschowsky)
  • NCL thể thiếu niên (bệnh Batten-Spielmeyer-Vogt, hay gọi đơn giản là bệnh Batten)
  • NCL thể người lớn (bệnh Kufs)

Theo thời gian, các nhà nghiên cứu đã mô tả thêm các thể NCL khác với đặc điểm lâm sàng tương tự như các thể điển hình. Hiện nay, các chuyên gia về NCL khuyến cáo phân loại bệnh chính theo gene hoặc protein (ví dụ: bệnh CLN1 hoặc thiếu hụt PPT1) và phân loại phụ theo tuổi khởi phát và đặc điểm lâm sàng. (Xem thêm mục ‘Thuật ngữ và phân loại’ ở dưới.)

Trong tất cả các rối loạn NCL, có sự tích tụ các vật chất bất thường trong nội bào bao gồm hỗn hợp lipid và protein, đặc trưng về mặt hình thái là ceroid lipofuscin. (Xem thêm mục ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)

Ít nhất 13 thể di truyền khác nhau của NCL đã được xác định. Nhìn chung, NCL là nhóm rối loạn thoái hóa thần kinh phổ biến nhất ở trẻ em 11, tuy nhiên, mỗi thể NCL riêng lẻ lại là một bệnh lý hiếm gặp. (Xem thêm mục ‘Di truyền học’‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Mặc dù có những đặc điểm chung như mất thị lực, sa sút trí tuệ, rối loạn vận động và động kinh, nhưng các bệnh thoái hóa thần kinh ceroid lipofuscin (NCL) thực chất là một nhóm các bệnh lý riêng biệt, thể hiện tính đa hình về di truyền và tính đa hiệu về kiểu hình. (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Khi trẻ nhũ nhi hoặc trẻ em có biểu hiện chậm phát triển toàn diện hoặc thoái triển phát triển, chúng tôi đề xuất thực hiện chẩn đoán hình ảnh não sớm, đặc biệt trong bối cảnh có co giật, phát hiện bất thường khi thăm khám thần kinh, và/hoặc có tình trạng đầu to hoặc đầu nhỏ. Xét nghiệm di truyền là phương pháp chẩn đoán chính cho hầu hết các trường hợp NCL. Thường cần một tiếp cận rộng, bao gồm các bảng gene NCL, bảng gene động kinh, bảng gene bệnh lý lysosome hoặc giải trình tự toàn bộ vùng exon (WES). Xét nghiệm enzyme (đối với bệnh CLN1 hoặc CLN2) và/hoặc sinh thiết da để đánh giá các thể bao hàm lysosome có thể được sử dụng như chiến lược xác nhận khi kết quả xét nghiệm di truyền không rõ ràng hoặc khi không có điều kiện thực hiện xét nghiệm di truyền. (Xem thêm mục ‘Đánh giá và chẩn đoán’ ở dưới.)

Đối với hầu hết các thể NCL, phương pháp quản lý chủ yếu là điều trị hỗ trợ. (Xem thêm mục ‘Chăm sóc hỗ trợ’ ở dưới.)

Đối với bệnh nhân mắc bệnh CLN2 từ 3 tuổi trở lên, chúng tôi khuyến cáo điều trị bằng cerliponase alfa tái tổ hợp ở người (Khuyến cáo 1B). (Xem thêm mục ‘Liệu pháp điều chỉnh diễn tiến bệnh cho CLN2’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here