Ung thư biểu mô vú xâm lấn vi thể

TÓM TẮT

Ung thư vú xâm lấn vi thể được định nghĩa là ung thư biểu mô xâm lấn với kích thước tiêu điểm lớn nhất không quá 1 mm; tình trạng này luôn xuất hiện trong bệnh cảnh ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS).

Tổng quan – Nguy cơ xuất hiện ung thư vú xâm lấn vi thể tăng lên khi tổn thương DCIS có kích thước lớn hoặc đa tâm. Tình trạng này thường liên quan đến DCIS độ cao và DCIS có hoại tử dạng comedo; trong những trường hợp đó, bệnh dễ biểu hiện với nhiều tiêu điểm xâm lấn vi thể. (Xem thêm ‘Tổng quan’ ở dưới.)

Theo hệ thống phân loại TNM của Ủy ban Hỗn hợp Hoa Kỳ về Ung thư (AJCC) phiên bản thứ 8 và Liên đoàn Chống Ung thư Quốc tế (UICC), ung thư vú xâm lấn vi thể được phân loại là T1mi. (Xem thêm ‘Tổng quan’ ở dưới.)

Xử trí tại vú – Hiện chưa có phác đồ điều trị tối ưu cho ung thư vú xâm lấn vi thể. Chúng tôi đề xuất phẫu thuật bảo tồn vú (BCS) kết hợp với xạ trị để giảm nguy cơ tái phát tại chỗ (Khuyến cáo 2B). Tuy nhiên, phẫu thuật đoạn nhũ có thể được ưu tiên cho những bệnh nhân có nguy cơ tái phát tại chỗ cao khi điều trị bảo tồn, bao gồm các trường hợp DCIS diện rộng, đa tâm, độ cao, có hoặc không có hoại tử dạng comedo, và cho những bệnh nhân không thể đạt được diện cắt sạch về mặt mô bệnh học qua phẫu thuật BCS. (Xem thêm ‘Xử trí tại vú’ ở dưới.)

Xử trí hạch nách – Chúng tôi thực hiện sinh thiết hạch gác cho những bệnh nhân xác định ung thư vú xâm lấn vi thể mà việc đánh giá tình trạng hạch nách sẽ ảnh hưởng đến quyết định liệu pháp hỗ trợ (xem ‘Xử trí hạch nách’ ở dưới). Việc bỏ qua sinh thiết hạch gác ở phụ nữ lớn tuổi có ung thư vú dương tính với thụ thể nội tiết (HR+) được thảo luận ở phần khác. (Xem “Tổng quan về tiếp cận ung thư vú giai đoạn sớm ở bệnh nhân cao tuổi”.)

Tiên lượng – Ung thư vú xâm lấn vi thể có tiên lượng rất tốt, với tỷ lệ sống còn toàn bộ sau 5 năm đạt trên 95%. (Xem thêm ‘Tiên lượng’ ở dưới.)

Liệu pháp hệ thống hỗ trợ – Liệu pháp nội tiết hỗ trợ phù hợp cho hầu hết phụ nữ có ung thư vú xâm lấn vi thể HR-dương tính. Trong trường hợp này, vai trò của liệu pháp nội tiết là “dự phòng hóa học” cho phần mô vú còn lại hoặc vú đối diện, vì tỷ lệ tái phát xa và tử vong do ung thư xâm lấn vi thể là rất thấp. Cách tiếp cận những bệnh nhân này tương tự như đối với phụ nữ ung thư vú xâm lấn HR-dương tính. (Xem “Liệu pháp nội tiết và liệu pháp nhắm trúng đích hỗ trợ cho phụ nữ sau mãn kinh có ung thư vú dương tính với thụ thể nội tiết”.)

Vì theo định nghĩa, những bệnh nhân này có khối u nguyên phát ≤ 1 mm, nên hóa trị thường không được chỉ định nếu không có tổn thương hạch, mặc dù có thể cân nhắc ngoại lệ cho bệnh nhân có tổn thương đa ổ hoặc HER2-dương tính. Đối với những bệnh nhân có tổn thương xâm lấn vi thể tại vú nhưng đồng thời phát hiện di căn đại thể đến hạch lympho, quyết định hóa trị sẽ phụ thuộc vào tình trạng thụ thể và các yếu tố nguy cơ của ung thư. (Xem “Lựa chọn và thực hiện hóa trị hỗ trợ cho ung thư vú HER2-âm tính”“Liệu pháp hệ thống hỗ trợ cho ung thư vú HER2-dương tính”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here