TÓM TẮT
Đánh giá nguy cơ ASCVD – Cách tiếp cận toàn diện để đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch do xơ vữa (ASCVD) bao gồm việc xác định các yếu tố nguy cơ và, đối với hầu hết các cá nhân, ước tính nguy cơ ASCVD bằng công cụ tính toán nguy cơ (sơ đồ 1). (Xem phần ‘Thuật ngữ’ ở dưới.)
Quá trình đánh giá và thảo luận về nguy cơ ASCVD nên được bắt đầu từ năm 20 tuổi hoặc tại lần thăm khám đầu tiên với hệ thống y tế sau 20 tuổi.
Xác định các yếu tố nguy cơ – Đối với tất cả mọi người, bước đầu tiên trong đánh giá nguy cơ ASCVD là xác định sự hiện diện của một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ ASCVD truyền thống (tăng huyết áp, hút thuốc lá, đái tháo đường [DM] hoặc béo phì) và/hoặc các yếu tố làm tăng nguy cơ. Bước này bao gồm việc thực hiện xét nghiệm lipid máu cơ bản nếu trước đó chưa được thực hiện. (Xem phần ‘Xác định các yếu tố nguy cơ’ ở dưới và “Tổng quan về dự phòng cấp 1 bệnh tim mạch ở người trưởng thành”.)
Các yếu tố làm tăng nguy cơ có thể thay đổi đáng kể mức độ nguy cơ ở từng bệnh nhân, làm cơ sở cho cuộc thảo luận giữa bác sĩ và bệnh nhân về nguy cơ ASCVD cũng như các liệu pháp dự phòng cấp 1 (bảng 1). (Xem phần ‘Yếu tố làm tăng nguy cơ’ ở dưới.)
Bệnh nhân từ 20 đến 29 tuổi – Đối với bệnh nhân trong độ tuổi từ 20 đến 29, chúng tôi đánh giá nguy cơ ASCVD suốt đời và xác định những cá nhân có nguy cơ ASCVD cao. Thông thường, chúng tôi không thực hiện ước tính định lượng nguy cơ ASCVD bằng công cụ tính toán cho nhóm bệnh nhân này. (Xem phần ‘Bệnh nhân từ 20 đến 29 tuổi’ ở dưới.)
Bệnh nhân từ 30 đến 79 tuổi – Tất cả cá nhân từ 30 đến 79 tuổi nên được ước tính định lượng nguy cơ ASCVD thông qua một công cụ tính toán nguy cơ đã được chuẩn hóa. (Xem phần ‘Ước tính nguy cơ ASCVD 10 năm bằng công cụ tính toán’ ở dưới.)
Lựa chọn công cụ tính toán nguy cơ – Bác sĩ lâm sàng nên làm quen và sử dụng công cụ tính toán nguy cơ ASCVD đã được chuẩn hóa cho khu vực và quần thể bệnh nhân của mình. Các công cụ thường được sử dụng tại Hoa Kỳ bao gồm công cụ Dự báo các biến cố tim mạch (PREVENT) năm 2023 của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (PREVENT) hoặc Công cụ ước tính rủi ro ASCVD Plus năm 2018. (Xem phần ‘Lựa chọn công cụ tính toán nguy cơ’ ở dưới và “Đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch trong dự phòng cấp 1: Các công cụ tính toán nguy cơ”.)
Ước tính nguy cơ 30 năm (“suốt đời”) – Chúng tôi tính toán nguy cơ ASCVD trong 30 năm (hoặc suốt đời) cho những bệnh nhân từ 30 đến 59 tuổi có mức ước tính nguy cơ 10 năm ở mức thấp (<5%) hoặc ranh giới (5% đến 7,5%), vì kết quả này giúp phân tầng nguy cơ chi tiết hơn và định hướng các chiến lược dự phòng cấp 1. (Xem phần ‘Khi nào cần ước tính nguy cơ 30 năm (“suốt đời”)’ ở dưới.)
Bệnh nhân trên 79 tuổi – Đối với bệnh nhân từ 80 tuổi trở lên, chúng tôi cá thể hóa việc đánh giá nguy cơ ASCVD. Quá trình này bao gồm thảo luận về lợi ích và rủi ro của các liệu pháp dự phòng cấp 1 trong bối cảnh tình trạng sức khỏe tổng quát của từng cá nhân, đồng thời cùng bệnh nhân đưa ra quyết định (shared decision-making) về việc phân tầng nguy cơ và can thiệp tiếp theo. (Xem phần ‘Bệnh nhân trên 79 tuổi’ ở dưới.)
Bệnh nhân có nguy cơ ASCVD rất cao – Các công cụ tính toán nguy cơ ASCVD không áp dụng cho bệnh nhân có nồng độ cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C) ≥190 mg/dL (≥4,9 mmol/L) và/hoặc tăng cholesterol máu gia đình; những bệnh nhân này có nguy cơ ASCVD rất cao. Nguy cơ ASCVD cũng rất cao ở người trưởng thành mắc đái tháo đường tuýp 1. Những đối tượng này cần được can thiệp tích cực để điều chỉnh các yếu tố nguy cơ. (Xem phần ‘Những bệnh nhân mà công cụ tính toán có thể đánh giá thấp nguy cơ’ ở dưới.)
Đánh giá và quản lý bổ sung – Kết quả từ các phép tính nguy cơ ASCVD 10 năm và 30 năm là điểm khởi đầu cho các cuộc thảo luận về lợi ích – rủi ro và đưa ra khuyến nghị về các liệu pháp dự phòng cấp 1 (sơ đồ 1). Cuộc thảo luận cũng cần kết hợp các giá trị và ưu tiên của từng cá nhân, đồng thời ghi nhận rằng mỗi bệnh nhân có ngưỡng chấp nhận dùng thuốc và tham gia vào các hoạt động dự phòng cấp 1 khác nhau. Các yếu tố bổ sung giúp làm rõ cuộc thảo luận về nguy cơ bao gồm sự hiện diện của các yếu tố làm tăng nguy cơ và, đối với một số bệnh nhân chọn lọc, thực hiện chụp CT đo điểm vôi hóa động mạch vành. (Xem phần ‘Phân tầng nguy cơ và quản lý bổ sung’ ở dưới.)