TÓM TẮT
Dịch tễ học – Các yếu tố nguy cơ gây bong gân cổ chân ngoài bao gồm hạn chế gập lưng cổ chân, giảm cảm thụ bản thể và mất thăng bằng. Trong các hoạt động thể thao, những môn chơi trên sân trong nhà có nguy cơ cao nhất. Cơ chế gây bong gân cổ chân phổ biến nhất là lật trong khi bàn chân đang ở tư thế gập lòng, gây tổn thương các dây chằng ngoài. Bong gân cổ chân trong tương đối ít gặp. (Xem ‘Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ’ và ‘Phân loại bong gân cổ chân’ ở dưới.)
Hỏi bệnh – Cần khai thác bệnh sử chi tiết để xác định cơ chế chấn thương, khả năng đi lại của bệnh nhân sau chấn thương (điều này quan trọng để áp dụng quy tắc Ottawa cho cổ chân), và tiền sử chấn thương cổ chân trước đó (tiền sử bong gân cổ chân làm tăng nguy cơ tái chấn thương). (Xem ‘Hỏi bệnh’ ở dưới.)
Khám lâm sàng – Quá trình thăm khám cần bao gồm sờ nắn toàn bộ xương mác, xương chày đoạn xa, khe khớp, các dây chằng cổ chân ngoài và trong, gân Achilles, cùng các vùng được quy định trong quy tắc Ottawa cho cổ chân (bờ sau hoặc đỉnh mắt cá ngoài, bờ sau hoặc đỉnh mắt cá trong, căn xương bàn chân thứ 5 và xương ghe). Nghiệm pháp ngăn kéo trước (hình 6) và nghiệm pháp nghiêng sên (hình 7) giúp xác định các tổn thương dây chằng nghiêm trọng hơn. Nghiệm pháp ép (hình 4) và nghiệm pháp xoay ngoài (hình 5) giúp nhận diện tổn thương khớp chày-mác dưới. Việc thăm khám lại sau vài ngày kể từ khi chấn thương thường cho kết quả chính xác hơn. (Xem ‘Khám lâm sàng’ và ‘Các nghiệm pháp đặc hiệu’ ở dưới.)
Chẩn đoán hình ảnh – Quy tắc Ottawa cho cổ chân (hình 6) giúp xác định xem có cần chụp X-quang quy ước hay không. (Xem ‘Xác định nhu cầu chụp X-quang’ và ‘Quy tắc Ottawa cho cổ chân’ ở dưới.)
Để loại trừ gãy xương cổ chân, nếu có chỉ định, cần chụp X-quang thế trước-sau, nghiêng và thế mộng. Gãy mắt cá, gãy xương mác đoạn xa, gãy vòm xương sên và giãn khớp chày-mác dưới có thể được chẩn đoán thông qua X-quang quy ước. (Xem ‘Lựa chọn phương pháp chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Mặc dù không bắt buộc, siêu âm tại chỗ (POCUS) là một công cụ hữu ích và chính xác để đánh giá tổn thương gân và dây chằng khi được thực hiện bởi các bác sĩ có chuyên môn. (Xem ‘Siêu âm’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt với bong gân cổ chân cấp tính bao gồm đứt gân, gãy xương, gãy xương do mỏi, bán trật khớp và một số tình trạng khác. Thông thường, chẩn đoán có thể được làm rõ dựa trên bệnh sử chấn thương cổ chân cấp tính điển hình và các phát hiện khi thăm khám mà không cần chẩn đoán hình ảnh. Trong các trường hợp chấn thương nặng hoặc khi không áp dụng được quy tắc Ottawa, chẩn đoán hình ảnh sẽ giúp xác định chính xác tổn thương. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ và ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Điều trị – Việc xử trí bong gân cổ chân được thảo luận trong một mục riêng. (Xem “Điều trị bong gân cổ chân ở người lớn” và “Tổn thương khớp chày-mác dưới (bong gân cổ chân cao)”.)