TÓM TẮT
Cơ chế chấn thương – Gãy thân xương cánh tay thường gặp nhất ở nam giới trẻ tuổi do chấn thương năng lượng cao và ở nữ giới cao tuổi do ngã năng lượng thấp. Cơ chế chấn thương thường là do một cú đánh trực tiếp hoặc lực uốn tác động lên vùng cánh tay. (Xem thêm ‘Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ’ và ‘Cơ chế chấn thương’ ở dưới.)
Đánh giá lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh – Đánh giá ban đầu bao gồm kiểm tra độ toàn vẹn của da, chức năng thần kinh mạch máu (đặc biệt là thần kinh quay (hình 1 và hình 2)), tình trạng biến dạng và ngắn chi. Bệnh nhân thường đau dữ dội vùng giữa cánh tay, nhưng có thể đau lan lên vai hoặc xuống khuỷu tay. Sưng nề và xuất huyết dưới da thường biểu hiện rõ rệt. (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng và kết quả thăm khám’ ở dưới.)
Chẩn đoán hình ảnh ban đầu bao gồm X-quang quy ước toàn bộ thân xương cánh tay trên bình diện trước-sau và nghiêng, cùng ít nhất một bình diện (tư thế nách (hình 1) hoặc tư thế Y xương bả vai (hình 2)) để đảm bảo chỏm xương cánh tay không trật. (Xem thêm ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Chỉ định chuyển chuyên khoa chấn thương chỉnh hình – Cần chuyển phẫu thuật khẩn cấp đối với gãy thân xương cánh tay kèm tổn thương mạch máu hoặc gãy hở. Trong tất cả các trường hợp gãy thân xương cánh tay, việc hội chẩn chuyên khoa chấn thương chỉnh hình là hợp lý. (Xem thêm ‘Hội chẩn hoặc chuyển chuyên khoa chấn thương chỉnh hình’ ở dưới.)
Các chỉ định chuyển chuyên khoa bắt buộc khác bao gồm:
- Gãy xương kèm tổn thương khớp
- Tổn thương đám rối cánh tay
- Gãy cẳng tay cùng bên (ví dụ: khuỷu tay lơ lửng – floating elbow)
- Gãy xương cánh tay hai bên
- Gãy xương bệnh lý (ví dụ: do u xương)
- Gãy các xương lớn khác kèm theo (ví dụ: gãy xương đùi)
- Vết thương do súng năng lượng cao (tùy thuộc vào mức độ tổn thương, có thể cần hội chẩn phẫu thuật khẩn cấp)
- Gãy xương kèm tổn thương phần mềm nghiêm trọng hoặc tổn thương da diện rộng
Xử trí – Bất động ban đầu thường được thực hiện bằng nẹp Coaptation (nẹp hình kẹo mút) ở cánh tay kết hợp với đai treo tay (hình 7). (Xem thêm ‘Xử trí ban đầu’ ở dưới.)
Hiện vẫn còn nhiều tranh luận về phương pháp điều trị triệt để tốt nhất cho gãy thân xương cánh tay. Những bệnh nhân đủ điều kiện phẫu thuật và có nguyện vọng hoặc muốn tìm hiểu thêm về các lựa chọn phẫu thuật nên được chuyển chuyên khoa. (Xem thêm ‘Hội chẩn hoặc chuyển chuyên khoa chấn thương chỉnh hình’ ở dưới.)
Đối với hầu hết bệnh nhân khỏe mạnh gãy thân xương cánh tay, chúng tôi đề xuất phẫu thuật điều trị thay vì điều trị bảo tồn (Khuyến cáo 2B). Tuy nhiên, những bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật cao hoặc ưu tiên tránh phẫu thuật hơn là phục hồi nhanh có thể lựa chọn điều trị bảo tồn (ví dụ: dùng nẹp chức năng). (Xem thêm ‘Phẫu thuật so với dùng nẹp’ ở dưới.)
Trên thực tế, bệnh nhân trẻ và năng động, bao gồm cả những người lao động mong muốn sớm trở lại làm việc, thường chọn phẫu thuật; trong khi bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật cao, người cao tuổi suy kiệt và những người muốn tránh phẫu thuật sẽ chọn điều trị bảo tồn. Gãy thân xương cánh tay đơn thuần, không biến chứng, không gập góc hoặc di lệch quá mức có thể điều trị bảo tồn bằng nẹp chức năng.
Theo dõi và chăm sóc bệnh nhân điều trị bằng nẹp chức năng – Sau khi hết sưng nề ban đầu (thường sau 1 đến 2 tuần), có thể sử dụng nẹp chức năng thương mại để bất động triệt để cho đến khi hình thành can xương rõ trên X-quang và ổ gãy vững khi thăm khám bằng tay, thường là từ tuần thứ 10 đến 16. Lịch tái khám chi tiết được nêu trong văn bản. (Xem thêm ‘Nẹp chức năng’ và ‘Theo dõi và chăm sóc’ ở dưới.)
Phục hồi chức năng bắt đầu trong vòng một tuần sau chấn thương, khởi đầu bằng các bài tập con lắc nhẹ nhàng để duy trì vận động và ngăn ngừa đơ khớp vai. Sau khi tháo nẹp, bệnh nhân có thể bắt đầu các bài tập cường độ cao hơn để tăng cường sức mạnh cơ cánh tay, cơ vai và khôi phục tầm vận động.
Biến chứng – Tổn thương thần kinh quay là biến chứng thần kinh thường gặp nhất và xảy ra nhiều hơn khi điều trị phẫu thuật. Tổn thương này thường biểu hiện bằng dị cảm vùng mu bàn tay hoặc yếu duỗi cổ tay và ngón tay (hình 12). Hơn 90% bệnh nhân bắt đầu hồi phục chức năng thần kinh quay trong vòng 7 đến 9 tuần, và tỷ lệ hồi phục thường không cải thiện thêm nhờ phẫu thuật thăm dò. (Xem thêm ‘Biến chứng’ ở dưới.)
Có thể xảy ra tình trạng khớp giả hoặc can lệch. Triệu chứng của khớp giả bao gồm đau và sưng kéo dài.
Quay lại hoạt động – Bệnh nhân dự kiến có thể quay lại chơi thể thao hoặc làm các công việc đòi hỏi sử dụng toàn bộ cánh tay sau 8 đến 12 tuần, nhưng chỉ khi đã có can xương, ổ gãy vững khi thăm khám bằng tay và tầm vận động đã được khôi phục. Thông thường, bệnh nhân có thể quay lại làm các công việc không yêu cầu sử dụng cánh tay và có thể dùng kèm nẹp chức năng trong vòng 1 đến 2 tuần. (Xem thêm ‘Khuyến nghị quay lại thể thao hoặc làm việc’ ở dưới.)