Hội chứng ống cổ tay
Đau và dị cảm dọc theo phân bố của dây thần kinh giữa do hội chứng ống cổ tay có thể lan đến mặt lòng của ngón cái (hình 4).
Các triệu chứng thường xuất hiện đầu tiên vào ban đêm và tăng dần theo thời gian trong nhiều tuần hoặc lâu hơn. Nếu không có bệnh lý phối hợp khác, kết quả sờ nắn thường không ghi nhận bất thường và vận động thụ động của ngón cái vẫn bình thường. Hội chứng ống cổ tay được thảo luận trong một mục riêng. (Xem “Hội chứng ống cổ tay: Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”, phần ‘Đặc điểm lâm sàng’.)
TÓM TẮT
- Giải phẫu, cơ chế và thăm khám – Đau ngón cái là một lý do thăm khám phổ biến. Giải phẫu chức năng và cách thăm khám ngón cái đã được mô tả trong bài. Khi khai thác bệnh sử, cần tập trung vào cơ chế chấn thương; trong khi thăm khám cần đánh giá toàn bộ các cử động của ngón cái (hình 1 và bảng 2) cũng như độ ổn định của khớp. (Xem ‘Giải phẫu chức năng’, ‘Bệnh sử và cơ chế chấn thương’ và ‘Thăm khám’ ở dưới.)
- Chẩn đoán hình ảnh – X-quang quy ước, bao gồm các bình diện trước-sau, nghiêng và chếch, là các chỉ định ban đầu để đánh giá chấn thương ngón cái. Siêu âm có giá trị trong việc đánh giá động các tổn thương dây chằng và gân, hoặc chẩn đoán các bệnh lý mô mềm khác. CT hoặc MRI có thể được chỉ định để đánh giá các trường hợp gãy xương phức tạp. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
- Tiếp cận chẩn đoán – Quy trình tiếp cận đối với người trưởng thành đến khám vì đau ngón cái được tóm tắt trong sơ đồ sau (thuật toán 1). Điểm mấu chốt là phân biệt giữa nguyên nhân do chấn thương và không do chấn thương; đối với nhóm chấn thương, cần phân loại tiếp thành các tổn thương có biến dạng, mất ổn định hoặc không có cả hai. (Xem ‘Tiếp cận chẩn đoán’ ở dưới.)
- Tổn thương mô mềm – Chấn thương ngón cái thường gây ra các tổn thương mô mềm. Vết rách da đơn giản có thể được khâu phục hồi sau khi hoàn tất thăm khám. Các vết thương da và mô mềm nghiêm trọng lan đến xương gãy, đứt gân, hoặc hở bao gân, bao khớp cần được xử trí cấp cứu, bao gồm cả việc chuyển tuyến đến phẫu thuật viên bàn tay. (Xem ‘Tổn thương mô mềm’ ở dưới.)
- Biến dạng sau chấn thương – Biến dạng rõ rệt của ngón cái sau chấn thương gợi ý khả năng gãy xương hoặc trật khớp. Phổ biến nhất là gãy các đốt ngón xa, đốt ngón gần và trật khớp bàn ngón. (Xem ‘Biến dạng: trật khớp và gãy xương’ ở dưới.)
- Mất ổn định sau chấn thương – Mất ổn định khớp sau chấn thương ngón cái gợi ý tổn thương dây chằng. Đứt dây chằng bên trụ là tổn thương thường gặp nhất. (Xem ‘Mất ổn định khớp’ ở dưới.)
- Đau không do chấn thương – Đau ngón cái không do chấn thương thường là biểu hiện của một tình trạng mạn tính hoặc đợt cấp trên nền mạn tính. Các chẩn đoán cần cân nhắc bao gồm viêm bao gân gấp hẹp (ngón tay lò xo), viêm bao gân de Quervain, viêm khớp và hội chứng ống cổ tay. Các đặc điểm quan trọng của mỗi chẩn đoán đã được mô tả trong bài, tuy nhiên các nội dung thảo luận chi tiết hơn được trình bày trong các mục riêng. (Xem ‘Đau ngón cái không do chấn thương’ ở dưới.)