Tăng albumin niệu mức độ trung bình (microalbumin niệu) trong đái tháo đường tuýp 1

TÓM TẮT

Định nghĩa – Albumin niệu tăng vừa (trước đây gọi là microalbumin niệu) được định nghĩa là tình trạng bài tiết albumin niệu kéo dài trong khoảng từ 30 đến 300 mg/ngày (20 đến 200 mcg/phút). Albumin niệu tăng nặng (trước đây gọi là macroalbumin niệu) là tình trạng bài tiết albumin trên 300 mg/ngày (200 mcg/phút). (Xem ‘Giới thiệu và định nghĩa’ ở dưới.)

Diễn tiến tự nhiên – Albumin niệu tăng vừa thường khởi phát từ 5 đến 15 năm sau khi mắc đái tháo đường típ 1. Tỷ lệ hiện mắc được báo cáo là khoảng 30% sau 15 năm và 50% sau 30 năm. (Xem ‘Tỷ lệ hiện mắc’ ở dưới.)

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến sự phát triển của albumin niệu tăng vừa bao gồm:

  • Tăng bài tiết albumin tại thời điểm khởi đầu;
  • Kiểm soát đường huyết kém;
  • Tăng huyết áp;
  • Sự hiện diện và mức độ nghiêm trọng của bệnh võng mạc;
  • Tăng cholesterol toàn phần hoặc LDL-cholesterol.

(Xem ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)

Một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân có albumin niệu tăng vừa sẽ thoái triển về mức albumin niệu bình thường. Các yếu tố thuận lợi cho sự thoái triển này bao gồm: kiểm soát đường huyết tốt hơn, huyết áp thấp hơn, nồng độ cholesterol và triglyceride huyết thanh thấp hơn, thời gian khởi phát gần đây, mức độ albumin niệu thấp và tình trạng tăng lọc cầu thận ít nghiêm trọng hơn. (Xem ‘Thoái triển về albumin niệu bình thường’ ở dưới.)

Albumin niệu tăng vừa liên quan đến nguy cơ cao phát triển albumin niệu tăng nặng, bệnh võng mạc, bệnh lý thần kinh và tăng tỷ lệ tử vong chung. (Xem ‘Diễn tiến tự nhiên’ ở dưới.)

Theo dõi – Chiến lược theo dõi ưu tiên cho albumin niệu tăng vừa là đo tỷ số albumin/creatinine niệu trong mẫu nước tiểu ngẫu nhiên. Giá trị từ 30 đến 300 mg/g creatinine (hoặc theo đơn vị SI là 3,4 đến 34 mg/mmol creatinine) gợi ý mức bài tiết albumin trong khoảng 30 đến 300 mg/ngày, do đó có khả năng hiện diện tình trạng albumin niệu tăng vừa. (Xem ‘Tỷ số albumin/creatinine niệu’ ở dưới.)

Tỷ số albumin/creatinine niệu nên được đo hàng năm cho tất cả bệnh nhân đái tháo đường típ 1 từ 5 năm trở lên. Một kết quả tỷ số tăng cao cần được xác nhận bằng ít nhất hai lần xét nghiệm bổ sung trong vòng 3 đến 6 tháng tiếp theo; chẩn đoán được xác lập khi có ít nhất hai trong ba mẫu xét nghiệm cho kết quả dương tính. (Xem ‘Sàng lọc’ ở dưới.)

Đối với những bệnh nhân tăng huyết áp kèm albumin niệu tăng vừa kéo dài, chúng tôi khuyến cáo điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển (ACE) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB) thay vì các thuốc hạ huyết áp khác (Khuyến cáo 1B). Mục tiêu của liệu pháp chẹn hệ renin-angiotensin (RAS) là giảm huyết áp xuống dưới 130/80 mmHg và làm chậm tiến triển bệnh thận ở những người đã xác định mắc bệnh thận do đái tháo đường. Các thuốc khác có thể được phối hợp thêm nếu cần thiết để đạt được mục tiêu huyết áp. (Xem ‘Ức chế Angiotensin’ ở dưới và “Điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường”.)

Hiện chưa có bằng chứng ủng hộ việc chẹn hệ RAS để dự phòng tiên phát albumin niệu tăng vừa ở bệnh nhân đái tháo đường típ 1 có albumin niệu và huyết áp bình thường. Những bệnh nhân này nên được sàng lọc albumin niệu hàng năm và khởi động điều trị bằng thuốc ức chế ACE nếu ghi nhận tình trạng albumin niệu tăng vừa kéo dài. (Xem ‘Thuốc ức chế ACE hoặc ARB’ ở dưới và ‘Sàng lọc’ ở dưới.)

Các vấn đề liên quan đến kiểm soát đường huyết — yếu tố thiết yếu để giảm thiểu các biến chứng tại thận và ngoài thận của đái tháo đường típ 1 — được thảo luận chi tiết ở phần khác. (Xem “Quản lý đường huyết và biến chứng mạch máu trong đái tháo đường típ 1”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here