TÓM TẮT
-
Các yếu tố góp phần gây nhiễm trùng tại ICU
Nhiễm trùng xảy ra đặc biệt thường xuyên tại các đơn vị hồi sức tích cực (ICU) do bệnh nhân thường có các bệnh lý mãn tính và rối loạn sinh lý cấp tính, việc đặt catheter lưu phổ biến, cũng như sự xuất hiện ngày càng tăng của các tác nhân gây bệnh đa kháng thuốc (khó tiêu diệt) do tăng áp lực chọn lọc kháng sinh và áp lực khu trú. (Xem thêm ‘Dịch tễ học của nhiễm trùng bệnh viện’ và ‘Dịch tễ học của các vi sinh vật kháng kháng sinh’ ở dưới.)
-
Các vi sinh vật đa kháng thuốc
Các tác nhân gây bệnh đa kháng và kháng thuốc diện rộng thường gặp nhất được phân lập tại ICU bao gồm Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA), enterococci kháng vancomycin (VRE), Pseudomonas aeruginosa kháng carbapenem, Acinetobacter baumannii và Enterobacterales sinh beta-lactamase phổ rộng (ESBL). Tỷ lệ Enterobacterales kháng carbapenem cũng đang gia tăng. Clostridioides difficile, Candida auris và các vi khuẩn gram âm không lên men glucose kháng carbapenem tự nhiên (ví dụ: Stenotrophomonas maltophilia) là những mối đe dọa mới nổi. (Xem thêm ‘Dịch tễ học của các vi sinh vật kháng kháng sinh’ ở dưới.)
-
Yếu tố nguy cơ đối với vi sinh vật đa kháng thuốc
Các bệnh đồng mắc, thời gian nằm viện kéo dài, tiếp xúc thường xuyên với nhân viên y tế, đặt catheter lưu và điều trị bằng kháng sinh đều làm tăng nguy cơ khu trú và nhiễm các tác nhân đa kháng thuốc. Nhiễm các vi sinh vật này có liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện và tăng chi phí điều trị. (Xem thêm ‘Yếu tố nguy cơ’ và ‘Tiên lượng’ ở dưới.)
-
Kiểm soát nhiễm khuẩn
Tuân thủ vệ sinh tay tốt, áp dụng các biện pháp phòng ngừa tiếp xúc cho bệnh nhân mang vi sinh vật kháng thuốc có ý nghĩa về mặt dịch tễ, và hạn chế tối đa việc nhập viện cũng như các can thiệp không cần thiết là những yếu tố then chốt để ngăn ngừa nhiễm trùng và sự lây lan của các vi sinh vật kháng thuốc trong ICU. Các phương pháp làm sạch và khử khuẩn môi trường chuẩn hóa và đầy đủ là một biện pháp đã được chứng minh giúp kiểm soát sự lây lan của các tác nhân đa kháng thuốc.
Các can thiệp kiểm soát nhiễm khuẩn chuyên sâu hơn để giảm áp lực khu trú bao gồm: phân nhóm bệnh nhân (cohorting) với nhân viên chăm sóc riêng, tắm chlorhexidine, khử khuẩn chọn lọc, giám sát chủ động một số tác nhân gây bệnh và giảm thiểu sử dụng catheter. (Xem thêm ‘Các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn’ ở dưới và “Phòng ngừa nhiễm trùng: Các biện pháp phòng ngừa lây truyền nhiễm trùng”.)
-
Quản lý sử dụng kháng sinh (Antibiotic stewardship)
Việc sử dụng kháng sinh một cách thận trọng và hạn chế, thường được triển khai như một phần của chương trình quản lý kháng sinh cấp cơ sở, có thể làm giảm áp lực chọn lọc thúc đẩy sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn như vệ sinh tay giúp ngăn chặn sự lây lan của các vi sinh vật đa kháng thuốc. (Xem thêm ‘Phòng ngừa’ ở dưới.)
-
Tắm chlorhexidine và khử khuẩn mũi
Đối với tất cả bệnh nhân tại ICU, chúng tôi khuyến cáo tắm chlorhexidine hàng ngày (Khuyến cáo 2C). Tắm chlorhexidine hàng ngày làm giảm nguy cơ khu trú và nhiễm các vi sinh vật kháng thuốc cũng như các tác nhân khác, đồng thời có ít tác dụng phụ. Ngoài ra, phương pháp này có thể hiệu quả hơn trong việc kiểm soát một số loại nhiễm trùng so với chính sách giám sát chủ động. (Xem thêm ‘Phòng ngừa’ ở dưới.)
Đối với các bệnh viện lựa chọn bổ sung khử khuẩn mũi vào quy trình tắm chlorhexidine hàng ngày tại ICU như một biện pháp chống nhiễm S. aureus, chúng tôi khuyến cáo sử dụng mupirocin đường mũi thay vì iodophor đường mũi (Khuyến cáo 2C). Việc khử khuẩn mũi bằng mupirocin kết hợp với tắm chlorhexidine hàng ngày có thể đặc biệt hữu ích tại các ICU có tỷ lệ nhiễm S. aureus cao, bao gồm cả MRSA.
-
Các loại nhiễm trùng tại ICU
Các nhiễm trùng thường gặp nhất tại ICU là những nhiễm trùng liên quan đến các thiết bị lưu, cụ thể là nhiễm khuẩn huyết liên quan đến catheter tĩnh mạch, viêm phổi liên quan đến máy thở (VAP) và nhiễm trùng đường tiết niệu liên quan đến catheter. Ngoài việc hạn chế sử dụng, một số chiến lược về đặt và chăm sóc các thiết bị lưu có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng (bảng 2 và bảng 1). Dịch tễ học, quản lý và dự phòng các nhiễm trùng này được thảo luận chi tiết ở phần khác.
(Xem thêm “Nhiễm trùng đường tiết niệu liên quan đến catheter ở người lớn” và “Biến chứng của catheter bàng quang và các chiến lược dự phòng”.)
(Xem thêm “Dịch tễ học, bệnh sinh, vi sinh vật học và chẩn đoán viêm phổi bệnh viện và viêm phổi liên quan đến máy thở ở người lớn”, “Điều trị viêm phổi bệnh viện và viêm phổi liên quan đến máy thở ở người lớn” và “Yếu tố nguy cơ và dự phòng viêm phổi bệnh viện và viêm phổi liên quan đến máy thở ở người lớn”.)
(Xem thêm “Nhiễm trùng liên quan đến catheter tĩnh mạch: Dịch tễ học, bệnh sinh và vi sinh vật học”, “Nhiễm trùng liên quan đến catheter tĩnh mạch không lọc máu: Điều trị” và “Chăm sóc và duy trì định kỳ các thiết bị tĩnh mạch”.)