Hội chứng đứt gãy Nijmegen

TÓM TẮT

Tuổi thọ của bệnh nhân NBS giảm do xu hướng phát triển các khối u ác tính khi còn trẻ. Trong một báo cáo năm 2000 của Nhóm Nghiên cứu Hội chứng Nijmegen Breakage Quốc tế, chỉ có 8 trong số 22 trường hợp NBS có u ác tính còn sống tại thời điểm kết thúc theo dõi (không nêu rõ thời gian). Độ tuổi trung vị khi tử vong là 7 tuổi (dao động từ 2 đến 21 tuổi) 27.

Một số bệnh nhân khác tử vong do nhiễm trùng nặng. Một báo cáo sau đó trên 149 bệnh nhân NBS cho thấy xác suất sống sót tổng thể đến năm 30 tuổi là 35%, trong đó bệnh nhân lớn tuổi nhất được ghi nhận là 33,7 tuổi và độ tuổi trung vị khi tử vong là 11 tuổi (dao động từ 2 đến 33,6 tuổi) 28. (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

TỔNG KẾT

  • Tổng quan – Hội chứng Nijmegen breakage (NBS) là một rối loạn di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, đặc trưng bởi tình trạng mất ổn định nhiễm sắc thể, nhạy cảm quá mức với bức xạ, suy giảm miễn dịch, thấp còi, tật đầu nhỏ, khuôn mặt “giống chim” và dễ phát triển u ác tính. (Xem thêm mục ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

  • Cơ chế bệnh sinh – NBS gây ra bởi các biến thể gây bệnh trong gen nibrin (NBN), gen mã hóa cho protein nibrin. Protein này tham gia vào quá trình sửa chữa đứt gãy sợi đôi của acid deoxyribonucleic (DNA), tái tổ hợp giảm phân và duy trì telomere. (Xem thêm mục ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)

  • Biểu hiện lâm sàng – Các đặc điểm lâm sàng điển hình của NBS bao gồm tật đầu nhỏ nghiêm trọng, khuôn mặt “giống chim”, thấp còi, suy giảm miễn dịch với các đợt nhiễm trùng đường hô hấp trên và dưới tái diễn, cùng xu hướng phát triển u ác tính. Những người mang gen (carrier) cũng có tăng nguy cơ mắc u ác tính. (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

  • Cận lâm sàng – Bất thường cận lâm sàng đặc trưng trong NBS là tình trạng mất ổn định nhiễm sắc thể. Hầu hết bệnh nhân có giảm lympho bào và khoảng một phần ba có tình trạng thiếu gamma-globulin máu. Nồng độ alpha-fetoprotein trong giới hạn bình thường. (Xem thêm mục ‘Cận lâm sàng’ ở dưới.)

  • Chẩn đoán – Chẩn đoán dựa trên các biểu hiện lâm sàng đặc trưng và được xác nhận bằng cách chứng minh sự tái sắp xếp nhiễm sắc thể (thường liên quan đến nhiễm sắc thể 7 và 14), cũng như tình trạng nhạy cảm quá mức của nhiễm sắc thể với tia X. Chẩn đoán cũng có thể được khẳng định thông qua việc xác định các biến thể gây bệnh trong gen NBN. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

  • Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt bao gồm: thất điều-giãn mạch (ataxia-telangiectasia), thiếu máu Fanconi, thiếu hụt RAD50 (một protein tham gia sửa chữa đứt gãy sợi đôi DNA), khiếm khuyết DNA ligase I và IV, thiếu hụt Cernunnos/XLF, hội chứng Bloom và hội chứng Seckel. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

  • Điều trị – Hiện chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu cho NBS. Bệnh nhân cần được đánh giá tình trạng suy giảm miễn dịch và điều trị phù hợp. Cha mẹ hoặc người chăm sóc cần được tư vấn về các dấu hiệu nhận biết của lymphoma và các khối u ác tính khác. Cần tránh xạ trị nếu có thể. Ghép tế bào tạo máu (HCT) là một lựa chọn cho một số bệnh nhân chọn lọc và có thể làm giảm nguy cơ phát triển u ác tính. (Xem thêm mục ‘Điều trị’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here