TÓM TẮT
Nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) – Bệnh nhân có tình trạng tăng đông di truyền có nguy cơ cao gặp các biến chứng thuyên tắc huyết khối trong thai kỳ, do những thay đổi của hệ thống đông máu liên quan đến thai kỳ cũng như tình trạng ứ trệ tuần hoàn tại các tĩnh mạch chi dưới. Xác suất xảy ra thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) tùy thuộc vào loại tăng đông cụ thể và việc bệnh nhân có tiền sử cá nhân hoặc gia đình bị huyết khối hay không (bảng 1). Nguy cơ thuyên tắc huyết khối sẽ cao hơn ở những người có tiền sử cá nhân hoặc tiền sử gia đình có biến cố thuyên tắc huyết khối mạnh. (Xem thêm mục ‘Nguy cơ VTE ở người mẹ’ ở dưới.)
Nguy cơ kết cục thai kỳ bất lợi – Một số nghiên cứu đã báo cáo về mối liên hệ giữa một số loại tăng đông và các kết cục thai kỳ bất lợi, tuy nhiên nguy cơ tuyệt đối là nhỏ và có sự khác biệt đáng kể giữa các báo cáo. Hầu hết các nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu quy mô lớn đều không thiết lập được mối liên hệ nhất quán giữa tăng đông di truyền và kết cục thai kỳ bất lợi ở nhóm đối tượng nguy cơ thấp. (Xem thêm mục ‘Nguy cơ kết cục thai kỳ bất lợi’ ở dưới.)
Chỉ định xét nghiệm
Chúng tôi chỉ định xét nghiệm tăng đông khi kết quả sẽ ảnh hưởng đến quyết định xử trí: có nên dùng thuốc chống đông dự phòng hay không, thời điểm dùng thuốc (trước sinh và/hoặc sau sinh) và liều lượng (liều thấp, trung bình hoặc cao) (xem thêm mục ‘Lựa chọn bệnh nhân để xét nghiệm’ ở dưới). Các đối tượng phù hợp để xét nghiệm bao gồm:
- Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có tiền sử VTE liên quan đến một yếu tố nguy cơ không do hormone mang tính tạm thời (ví dụ: gãy xương đùi, phẫu thuật, bất động kéo dài).
- Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có tiền sử VTE không rõ nguyên nhân, VTE tái phát, hoặc VTE liên quan đến thuốc tránh thai chứa estrogen-progestin hoặc trong thai kỳ.
- Phụ nữ không triệu chứng (chưa từng có VTE) đang lập kế hoạch mang thai, có người thân trực hệ bị VTE trước 50 tuổi và có tình trạng tăng đông nguy cơ cao.
Khi có thể, các xét nghiệm phòng thí nghiệm nên được thực hiện xa thời điểm xảy ra biến cố huyết khối, khi bệnh nhân không mang thai và không đang điều trị chống đông hoặc liệu pháp hormone. (Xem thêm mục ‘Lựa chọn bệnh nhân để xét nghiệm’ và ‘Xét nghiệm phòng thí nghiệm’ ở dưới.)
Chúng tôi khuyến cáo không xét nghiệm tăng đông di truyền cho bệnh nhân có tiền sử sảy thai tái diễn hoặc không tái diễn, nhau bong non, thai chậm tăng trưởng trong tử cung hoặc tiền sản giật (Khuyến cáo 1B). Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy việc sử dụng thuốc chống đông không cải thiện kết cục thai kỳ ở những bệnh nhân này. (Xem thêm mục ‘Lựa chọn bệnh nhân để xét nghiệm’ ở dưới.)
Phòng ngừa các biến chứng thai kỳ – Chúng tôi đề nghị không sử dụng thuốc chống đông dự phòng trong thai kỳ để ngăn ngừa các biến chứng thai kỳ qua trung gian bánh nhau (Khuyến cáo 2B). (Xem thêm mục ‘Phòng ngừa các biến chứng thai kỳ’ ở dưới.)
Phòng ngừa VTE – Mục tiêu điều trị là phòng ngừa VTE cho người mẹ. Dựa trên các dữ liệu đã trích dẫn trong phần thảo luận ở trên, cũng như bằng chứng gián tiếp từ các nghiên cứu trên người không mang thai, chúng tôi đề xuất phương pháp tiếp cận được mô tả trong bảng (bảng 3A-B). Các phác đồ chống đông của chúng tôi có sự khác biệt nhẹ so với phác đồ của Trường Cao đẳng Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) và các tổ chức khác. (Xem thêm “Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trong thai kỳ và sau sinh: Phòng ngừa” và “Điều trị chống đông trong thai kỳ và sau sinh: Lựa chọn thuốc và liều dùng”.)
Theo dõi sản khoa – Trong trường hợp không có biến chứng sản khoa như tiền sản giật, nhau bong non hoặc thai chậm tăng trưởng, chúng tôi đề nghị đánh giá hàng tuần bằng Non-Stress Test (NST) bắt đầu từ tuần thứ 36 của thai kỳ và cho sinh ở tuần thứ 39. (Xem thêm mục ‘Giám sát thai nhi và thời điểm sinh’ ở dưới.)