TÓM TẮT
Đánh giá – Tiến hành khai thác tiền sử, thăm khám lâm sàng và đo điện tâm đồ (ECG) cho tất cả bệnh nhân trước khi thực hiện liệu pháp sốc điện (ECT) theo kế hoạch. Xác định các yếu tố nguy cơ gây biến chứng tim mạch của thủ thuật thông qua các chỉ số nguy cơ hoặc hướng dẫn về tim mạch đã được công bố. Các yếu tố nguy cơ bao gồm bệnh động mạch vành, bệnh van tim, suy tim, cũng như đái tháo đường, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu và tuổi cao. Hướng dẫn xử trí các bệnh lý phối hợp được trình bày trong bảng (bảng 3). (Xem thêm phần ‘Đánh giá trước thủ thuật’ ở dưới.)
Bệnh nhân có bệnh lý tim mạch
- Trì hoãn thực hiện ECT đối với bệnh nhân có cơn đau thắt ngực không ổn định, suy tim mất bù hoặc bệnh van tim có triệu chứng nặng cho đến khi tình trạng bệnh ổn định. Khuyến cáo hội chẩn chuyên khoa tim mạch cho những bệnh nhân này. (Xem thêm phần ‘Bệnh tim mạch phối hợp’ ở dưới.)
- Không khuyến cáo sử dụng thường quy thuốc chẹn beta dự phòng, vì thuốc này có thể làm giảm thời gian co giật và tăng nguy cơ ngừng tim. Tuy nhiên, nên cân nhắc sử dụng thuốc chẹn beta đường tĩnh mạch (IV) tác dụng ngắn cho những bệnh nhân có nguy cơ biến chứng rất cao do tăng huyết áp thoáng qua (ví dụ: hẹp van động mạch chủ nặng, phình mạch nội sọ, đau thắt ngực không ổn định hoặc nhồi máu cơ tim gần đây). Hội chẩn tim mạch là cần thiết đối với những bệnh nhân có nguy cơ rất cao. (Xem thêm phần ‘Thuốc chẹn beta dự phòng’ ở dưới.)
- Tiếp tục sử dụng nitrate, thuốc chẹn beta và các thuốc hạ huyết áp khác cho bệnh nhân có bệnh lý tim mạch từ trước. Nếu bệnh nhân đang dùng thuốc chẹn beta, nên sử dụng atropine trong giai đoạn khởi mê để giảm nguy cơ ngừng tim. (Xem thêm phần ‘Bệnh động mạch vành’ ở dưới.)
Bệnh nhân có bất thường cấu trúc não hoặc mạch máu não – ECT thường an toàn đối với bệnh nhân có dị vật kim loại trong sọ, u não, phình mạch não và một số bất thường cấu trúc như dị dạng Chiari I, miễn là không có bằng chứng của tăng áp lực nội sọ. Tuy nhiên, chúng tôi khuyến cáo nên hội chẩn ngoại thần kinh trước khi tiến hành ECT. (Xem thêm phần ‘Bệnh lý thần kinh và ngoại thần kinh phối hợp’ ở dưới.)
Bệnh nhân đái tháo đường – Bệnh nhân đái tháo đường nhìn chung nên tạm ngưng các thuốc hạ đường huyết đường uống và insulin tác dụng ngắn vào sáng ngày thực hiện ECT. Đối với những ca ECT vào sáng sớm (khi bữa sáng chỉ bị trì hoãn), bệnh nhân có thể lùi thời điểm tiêm insulin sáng thông thường cho đến sau khi kết thúc ECT và trước khi ăn. Nếu bệnh nhân có khả năng bỏ cả bữa sáng và bữa trưa, khuyến cáo sử dụng một nửa tổng liều insulin sáng thông thường (bao gồm cả loại tác dụng trung bình và tác dụng ngắn) dưới dạng insulin tác dụng trung bình. (Xem thêm phần ‘Đái tháo đường’ ở dưới.)
Bệnh nhân đang điều trị chống đông – Có thể tiếp tục điều trị chống đông bằng các thuốc chống đông đường uống trực tiếp hoặc warfarin cho bệnh nhân điều trị ECT có điểm CHA2DS2-VASc > 1 (máy tính 1) hoặc có chỉ định chống đông mạnh khác. Đối với bệnh nhân dùng warfarin, chỉ số INR (tỷ lệ bình thường hóa quốc tế) nên duy trì dưới 3,5. (Xem thêm phần ‘Thuốc chống đông’ ở dưới.)