TÓM TẮT
Định nghĩa – Về mặt lâm sàng, BPD được định nghĩa là tình trạng trẻ sơ sinh non vẫn cần oxy hỗ trợ và/hoặc hỗ trợ hô hấp tại thời điểm 28 ngày tuổi sau sinh hoặc 36 tuần tuổi sau kinh cuối (máy tính 1), kèm theo bằng chứng X-quang về bệnh lý nhu mô phổi (hình 1). Có nhiều tiêu chuẩn khác nhau được sử dụng để định nghĩa BPD (bảng 2). (Xem phần ‘Thuật ngữ’ ở dưới.)
Các can thiệp hiệu quả – Các can thiệp nhằm giảm nguy cơ loạn sản phế quản phổi (BPD) ở trẻ cực non (EPT) (tuổi thai [GA] <28 tuần) có nguy cơ mắc BPD bao gồm (sơ đồ 1) (xem phần ‘Tiếp cận của chúng tôi’ và ‘Các can thiệp’ ở dưới):
- Liệu pháp glucocorticoid trước sinh – Chỉ định cho phụ nữ mang thai <34 tuần tuổi thai có nguy cơ sinh non cao, nội dung này được thảo luận chi tiết trong một bài riêng. (Xem “Liệu pháp corticosteroid trước sinh để giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong do hô hấp ở trẻ sơ sinh non”.)
- Quản lý dinh dưỡng và dịch truyền – Ở tất cả trẻ sinh non, mục tiêu dinh dưỡng là cung cấp đủ lượng calo để thúc đẩy sự tăng trưởng của cơ thể và phổi; lượng dịch truyền được điều chỉnh để duy trì cân bằng nước trung tính hoặc âm nhẹ. Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng ưu tiên, nếu không có sẵn thì sử dụng sữa mẹ hiến tặng. Các vấn đề này được thảo luận riêng biệt. (Xem “Tiếp cận dinh dưỡng đường tiêu hóa ở trẻ sinh non”, “Dinh dưỡng tĩnh mạch ở trẻ sinh non”, “Liệu pháp dịch và điện giải ở trẻ sơ sinh”, “Nuôi dưỡng bằng sữa mẹ và tăng cường dinh dưỡng từ sữa mẹ cho trẻ sinh non” và “Hội chứng suy hô hấp (RDS) ở trẻ sơ sinh non: Xử trí”, phần ‘Quản lý dịch’.)
- Mục tiêu oxy – Ở trẻ sinh non cần oxy hỗ trợ, mức bão hòa oxy (SpO2) mục tiêu được thiết lập trong khoảng 90% đến 95%, nội dung này được thảo luận chi tiết ở bài riêng. (Xem “Mức oxy mục tiêu cho trẻ sơ sinh non”, phần ‘Mức oxy mục tiêu’.)
- Chiến lược thông khí giảm thiểu tổn thương phổi – Sử dụng các chiến lược thông khí nhằm giảm thiểu tổn thương phổi, ưu tiên các phương pháp không xâm lấn. Cách tiếp cận thông khí cơ học ở trẻ sinh non được tóm tắt trong bảng (bảng 3) và được thảo luận chi tiết trong bài riêng. (Xem “Hội chứng suy hô hấp (RDS) ở trẻ sơ sinh non: Xử trí”, phần ‘Tiếp cận lâm sàng’ và “Tiếp cận thông khí cơ học ở trẻ sơ sinh rất non”.)
- Liệu pháp Caffeine – Liệu pháp caffeine sớm được chỉ định thường quy cho tất cả trẻ cực non (EPT), nội dung này được thảo luận chi tiết ở bài riêng. (Xem “Xử trí ngưng thở ở trẻ sinh non”, phần ‘Caffeine’.)
- Bổ sung Vitamin A – Việc bổ sung vitamin A tùy thuộc vào quy định của từng trung tâm. Nếu có sẵn vitamin A, các bác sĩ lâm sàng có thể cân nhắc chỉ định cho trẻ cực non (EPT) cần hỗ trợ thông khí; tuy nhiên, lợi ích tương đối của việc bổ sung vitamin A trong trường hợp này được cho là không lớn. (Xem phần ‘Vitamin A’ ở dưới.)
- Glucocorticoid sau sinh – Chúng tôi không chỉ định thường quy glucocorticoid toàn thân hoặc đường hít sau sinh để dự phòng BPD. Glucocorticoid toàn thân chỉ dành cho trẻ cực non (EPT) vẫn phụ thuộc vào máy thở và/hoặc cần hỗ trợ oxy >50% tại thời điểm 2 đến 4 tuần tuổi sau sinh. Nội dung này được thảo luận chi tiết trong bài riêng. (Xem “Sử dụng glucocorticoid sau sinh để dự phòng loạn sản phế quản phổi (BPD) ở trẻ sinh non”.)
Các can thiệp không hiệu quả – Các can thiệp không cho thấy hiệu quả trong dự phòng BPD ở trẻ cực non (EPT) bao gồm (xem phần ‘Các can thiệp chưa được chứng minh’ ở dưới):
- Duy trì bơm phồng phổi trong hồi sức sơ sinh (xem “Hồi sức sơ sinh tại phòng sinh”, phần ‘Duy trì bơm phồng’)
- Nitric oxide hít (iNO) (xem “Hội chứng suy hô hấp (RDS) ở trẻ sơ sinh non: Xử trí”, phần ‘Vai trò hạn chế của nitric oxide hít’)
- Liệu pháp surfactant muộn (xem “Hội chứng suy hô hấp (RDS) ở trẻ sơ sinh non: Xử trí”, phần ‘Thời điểm thực hiện’)