TÓM TẮT
Đường truyền nhiễm – Hầu hết các trường hợp nhiễm Chlamydia trachomatis chu sinh lây truyền từ người mang thai nhiễm bệnh sang trẻ trong quá trình sinh ngả âm đạo. Khoảng một nửa số ca nhiễm C. trachomatis chu sinh có triệu chứng và một nửa không có triệu chứng. (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Nhiễm C. trachomatis ở trẻ sơ sinh có thể biểu hiện qua (xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới):
- Viêm kết mạc – Đây là biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất, thường xuất hiện từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 14 sau sinh. Triệu chứng dao động từ sưng nhẹ kèm tiết dịch mắt trong, sau đó chuyển sang nhầy mủ (hình 1), đến sưng nề mí mắt rõ rệt với kết mạc đỏ và dày lên (phù kết mạc). Trẻ không được điều trị có thể gặp tình trạng viêm kết mạc kéo dài nhiều tháng, dẫn đến sẹo giác mạc và kết mạc. (Xem thêm ‘Viêm kết mạc’ ở dưới.)
- Viêm phổi – Thường khởi phát từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 8 sau sinh, mặc dù có thể xuất hiện sớm từ tuần thứ 2 hoặc muộn từ tháng thứ 3 đến thứ 4. Các dấu hiệu điển hình nhất là nghẹt mũi, ho và thở nhanh. Đặc trưng của tiếng ho là kiểu ho ngắt quãng (staccato) có thể xuất hiện thành từng cơn. Bệnh nhân thường không sốt hoặc sốt nhẹ. Nhiều trẻ đồng thời có viêm kết mạc. Trẻ sinh non có thể biểu hiện bằng cơn ngưng thở. Tăng bạch cầu ái toan ngoại vi là một đặc điểm xét nghiệm điển hình. Hình ảnh X-quang ngực thường cho thấy tình trạng ứ khí với thâm nhiễm kẽ lan tỏa (hình 1). (Xem thêm ‘Viêm phổi’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Xét nghiệm khuếch đại acid nucleic (NAATs) là phương pháp tiêu chuẩn để chẩn đoán nhiễm Chlamydia. Phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong việc phát hiện C. trachomatis trong các mẫu bệnh phẩm kết mạc hoặc dịch tỵ hầu. (Xem thêm ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Điều trị – Hướng tiếp cận đề xuất trong điều trị nhiễm C. trachomatis ở trẻ sơ sinh như sau (xem ‘Điều trị’ ở dưới):
- Thời điểm bắt đầu điều trị – Đối với trẻ sơ sinh viêm kết mạc, quyết định điều trị dựa trên kết quả xét nghiệm chẩn đoán dương tính. Đối với trẻ viêm phổi, điều trị ban đầu là điều trị theo kinh nghiệm cho đến khi có kết quả xét nghiệm. Chẩn đoán theo kinh nghiệm dựa trên các đặc điểm lâm sàng và hình ảnh X-quang điển hình, đặc biệt ở trẻ sinh ra từ người mang thai nhiễm Chlamydia chưa được điều trị. (Xem thêm ‘Khi nào bắt đầu điều trị’ ở dưới.)
- Lựa chọn kháng sinh – Đối với trẻ sơ sinh nhiễm C. trachomatis, bao gồm viêm kết mạc hoặc viêm phổi, chúng tôi đề xuất sử dụng erythromycin base hoặc ethylsuccinate đường uống thay vì các thuốc khác (Khuyến cáo 2C). Erythromycin được dùng đường uống với liều 50 mg/kg/ngày, chia làm 4 lần trong 14 ngày. Azithromycin đường uống (20 mg/kg/ngày, dùng một lần duy nhất mỗi ngày trong 3 ngày) là một lựa chọn thay thế hợp lý. Liệu pháp điều trị tại chỗ không hiệu quả đối với viêm kết mạc do C. trachomatis và không cần thiết nếu bệnh nhân đã được điều trị toàn thân. (Xem thêm ‘Lựa chọn kháng sinh’ ở dưới.)
Phòng ngừa – Cách hiệu quả nhất để phòng ngừa nhiễm Chlamydia chu sinh là triển khai chương trình sàng lọc hệ thống nhằm phát hiện và điều trị cho tất cả những người mang thai nhiễm C. trachomatis sinh dục. Việc dự phòng mắt cho trẻ sơ sinh bằng thuốc mỡ erythromycin không hiệu quả trong việc ngăn ngừa viêm kết mạc do Chlamydia. (Xem thêm ‘Phòng ngừa’ ở dưới.)