TÓM TẮT
Định nghĩa – Bệnh Von Hippel-Lindau (VHL) là hội chứng di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, phát sinh do các biến thể gây bệnh ở dòng mầm trong gen VHL. Đặc trưng của bệnh VHL là sự xuất hiện của nhiều loại u lành tính và ác tính khác nhau, bao gồm:
- U nguyên bào mạch hệ thần kinh trung ương – (xem ‘U nguyên bào mạch CNS’ ở dưới)
- U nguyên bào mạch mao mạch võng mạc – (xem ‘U nguyên bào mạch mao mạch võng mạc’ ở dưới)
- Ung thư biểu mô tế bào thận tế bào sáng – (xem ‘Ung thư biểu mô tế bào thận’ ở dưới)
- U tủy thượng thận – (xem ‘U tủy thượng thận’ ở dưới)
- Nang tụy và u nang thanh dịch; các khối u thần kinh nội tiết tụy – (xem ‘Tổn thương tụy’ ở dưới)
- U túi nội dịch tai giữa – (xem ‘U túi nội dịch tai giữa’ ở dưới)
- U nang tuyến nhú của mào tinh hoàn và dây chằng rộng – (xem ‘U nang tuyến nhú’ ở dưới)
Biểu hiện lâm sàng – Ở bệnh nhân mắc VHL, các khối u có thể xuất hiện ở nhiều độ tuổi và tần suất khác nhau (bảng 1), với các biểu hiện lâm sàng thay đổi tùy theo loại u. Tuy nhiên, phần lớn các trường hợp xảy ra ở người trẻ (thường dưới 40 tuổi), có tính chất song phương và/hoặc đa ổ, và nhìn chung tiến triển âm thầm. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Khi nào cần nghi ngờ chẩn đoán bệnh VHL – Cần nghi ngờ chẩn đoán bệnh VHL ở những bệnh nhân trẻ tuổi có các khối u đặc trưng liên quan đến VHL, những người có tiền sử gia đình mắc bệnh VHL (bảng 3), và những cá thể có các biến thể gây bệnh (hoặc có khả năng gây bệnh) thứ phát trong gen VHL. (Xem ‘Khi nào cần nghi ngờ chẩn đoán’ ở dưới.)
Xét nghiệm di truyền (chẩn đoán) – Chẩn đoán bệnh VHL thường được xác lập thông qua việc phát hiện biến thể gây bệnh ở dòng mầm trong gen VHL. (Xem ‘Xét nghiệm di truyền (chẩn đoán)’ ở dưới và “Sinh học phân tử và cơ chế bệnh sinh của bệnh von Hippel-Lindau”.)
Thể khảm dòng tế bào (Somatic mosaicism) – Thể khảm dòng tế bào (hình 2) là một khả năng cần xem xét ở những bệnh nhân hiếm gặp có khối u liên quan đến VHL nhưng kết quả xét nghiệm tìm biến thể gây bệnh VHL từ mẫu máu lại âm tính. Những bệnh nhân này có thể được đánh giá bằng giải trình tự thế hệ mới và xét nghiệm di truyền trên các mô khác (ví dụ: nguyên bào sợi da, tế bào niêm mạc miệng, hoặc nhiều khối u khác nhau từ cùng một bệnh nhân). (Xem ‘Tiếp cận bệnh nhân có kết quả xét nghiệm âm tính với biến thể gây bệnh VHL (thể khảm dòng tế bào)’ ở dưới.)
Theo dõi các khối u liên quan đến bệnh VHL – Tất cả bệnh nhân mắc bệnh VHL, kể cả những người không có triệu chứng, cần bắt đầu quá trình theo dõi suốt đời đối với các khối u liên quan đến tình trạng này (bảng 4). Việc theo dõi rất quan trọng để chẩn đoán sớm các khối u mới có thể cần điều trị, theo dõi các khối u nhỏ không triệu chứng để phát hiện dấu hiệu tiến triển, và nhằm giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh cũng như tỷ lệ tử vong. Các nội dung theo dõi khối u liên quan đến bệnh VHL được thảo luận riêng biệt. (Xem “Theo dõi và quản lý bệnh von Hippel-Lindau”, phần về ‘Theo dõi các khối u liên quan’.)
Thai kỳ và bệnh VHL
- Đánh giá tình trạng di truyền gen VHL ở thai nhi – Bệnh nhân đang có kế hoạch mang thai hoặc đang mang thai có nguy cơ mắc bệnh VHL nên được tư vấn di truyền. Họ cũng cần được thông tin về các công nghệ sinh sản giúp giảm nguy cơ sinh con mắc bệnh VHL và các phương pháp xác định tình trạng mang biến thể gây bệnh VHL của thai nhi. Việc theo dõi cần được bắt đầu kịp thời ở tất cả các trẻ sơ sinh được chẩn đoán mắc bệnh VHL. (Xem ‘Tư vấn di truyền’ ở dưới và ‘Đánh giá tình trạng di truyền bệnh VHL ở thai nhi’ ở dưới.)
Quản lý bệnh VHL – Việc quản lý bệnh VHL dựa trên loại khối u được thảo luận riêng biệt. (Xem “Theo dõi và quản lý bệnh von Hippel-Lindau”.)