Tăng áp lực nội sọ vô căn (giả u não): Tiên lượng và điều trị

TÓM TẮT

Mục tiêu điều trị – Biến chứng chính liên quan đến tăng áp lực nội sọ vô căn (IIH) là mất thị lực. Có đến 15% bệnh nhân IIH có nguy cơ mất thị lực nghiêm trọng và vĩnh viễn. Đau đầu kéo dài cũng là một nguyên nhân gây tàn phế và làm giảm chất lượng cuộc sống. (Xem thêm ‘Mục tiêu điều trị’ ở dưới.)

Theo dõi – Bệnh nhân IIH cần được tái khám định kỳ và khám mắt thường xuyên cho đến khi tình trạng ổn định. (Xem thêm ‘Theo dõi trong quá trình điều trị’ ở dưới.)

Điều trị ban đầu – Hướng tiếp cận điều trị được tóm tắt trong sơ đồ (sơ đồ 1).

  • Cần ngừng các thuốc có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm tình trạng IIH (ví dụ: các dẫn xuất tetracycline), đồng thời điều trị các bệnh lý đồng mắc nếu có (ví dụ: ngưng thở khi ngủ và thiếu máu). (Xem thêm ‘Xử lý các yếu tố nguy cơ và bệnh lý đồng mắc’ ở dưới.)
  • Đối với bệnh nhân IIH kèm béo phì, cần tư vấn và/hoặc chuyển tuyến để thay đổi lối sống, tăng cường vận động và thúc đẩy giảm cân từ 6% đến 10% trọng lượng cơ thể. (Xem thêm ‘Giảm cân’ ở dưới và “Béo phì ở người trưởng thành: Tổng quan về quản lý”.)
  • Về điều trị ban đầu cho bệnh nhân IIH, chúng tôi đề xuất sử dụng acetazolamide, một chất ức chế carbonic anhydrase (Khuyến cáo 2B). Trong một thử nghiệm lâm sàng, acetazolamide giúp cải thiện chức năng thị trường, giảm độ phù gai thị, hạ áp lực dịch não tủy (CSF) và cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến thị giác sau 6 tháng. Topiramate và các chất ức chế carbonic anhydrase khác là những lựa chọn thay thế cho acetazolamide, tuy nhiên dữ liệu về các thuốc này còn hạn chế. (Xem thêm ‘Thuốc ức chế carbonic anhydrase’ ở dưới.)

Điều trị phối hợp cho các triệu chứng dai dẳng – Furosemide có thể mang lại lợi ích bổ sung khi phối hợp với acetazolamide ở những bệnh nhân vẫn còn triệu chứng. (Xem thêm ‘Thuốc lợi tiểu quai’ ở dưới.)

Các liệu pháp điều trị đau đầu truyền thống có thể được áp dụng cho bệnh nhân IIH có triệu chứng. Đặc biệt, đau đầu do lạm dụng thuốc giảm đau (analgesic rebound headache) là một biến chứng thường gặp trong IIH, cần được phòng ngừa và điều trị thích hợp. (Xem thêm ‘Dự phòng đau đầu’ ở dưới.)

Bệnh diễn tiến cấp tính – Một số ít bệnh nhân có biểu hiện mất thị lực tiến triển nhanh chóng trong vòng vài tuần sau khi khởi phát triệu chứng. (Xem thêm ‘Bệnh diễn tiến cấp tính’ ở dưới.)

Những trường hợp này cần được khởi trị bằng acetazolamide khẩn cấp và chuyển chuyên khoa để can thiệp phẫu thuật. (Xem thêm ‘Can thiệp cho bệnh nặng hoặc kháng trị’ ở dưới.)

Ở những bệnh nhân này, chúng tôi cũng đề xuất thực hiện các biện pháp tạm thời (ví dụ: đặt dẫn lưu thắt lưng) trong khi chờ phẫu thuật (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Biện pháp tạm thời khẩn cấp’ ở dưới.)

Bệnh kháng trị hoặc diễn tiến nặng hơn – Đối với những bệnh nhân IIH hiếm gặp có thị lực tiếp tục suy giảm dù đã điều trị nội khoa, chúng tôi khuyến cáo can thiệp phẫu thuật mở bao dây thần kinh thị giác (ONSF) và/hoặc đặt dẫn lưu dịch não tủy (Khuyến cáo 1B). Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật tùy thuộc vào năng lực chuyên môn tại cơ sở y tế và nguyện vọng của bệnh nhân. Những bệnh nhân không đáp ứng với phương pháp này có thể đáp ứng với phương pháp kia. Tuy nhiên, không có can thiệp nào là giải pháp tuyệt đối; các biến chứng nghiêm trọng vẫn có thể xảy ra, tình trạng thất bại hoặc tái phát triệu chứng là phổ biến. (Xem thêm ‘Can thiệp cho bệnh nặng hoặc kháng trị’ ở dưới.)

Tiên lượng và theo dõi – Hầu hết bệnh nhân IIH cải thiện hoặc ổn định với điều trị nội khoa sau vài tháng. Tuy nhiên, tái phát có thể xảy ra ngay cả sau nhiều năm, do đó cần theo dõi liên tục. (Xem thêm ‘Tiên lượng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here