Viêm thượng củng mạc

TÓM TẮT

Định nghĩa – Viêm thượng củng mạc thường được phân thành thể đơn thuần hoặc thể nốt. Thể đơn thuần thường khu trú theo phân khu, giới hạn trong một vùng thượng củng mạc xác định, nhưng cũng có thể lan tỏa ra toàn bộ bề mặt nhãn cầu (hình 1). Thể nốt biểu hiện bằng các sẩn nhô cao nên thường chỉ giới hạn ở một vùng của nhãn cầu (hình 2). (Xem mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Dịch tễ học – Đa số bệnh nhân viêm thượng củng mạc không có bệnh nhiễm trùng hoặc bệnh viêm hệ thống đi kèm. Khi có bệnh lý kết hợp, phổ biến nhất là các bệnh thấp khớp hệ thống; ngoài ra cũng có thể gặp bệnh viêm ruột, viêm mạch, nhiễm trùng hệ thống và các tình trạng khác. 70% bệnh nhân viêm thượng củng mạc là nữ. (Xem mục ‘Liên quan đến bệnh hệ thống’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Nên nghi ngờ cao chẩn đoán viêm thượng củng mạc ở bệnh nhân có các biểu hiện lâm sàng đặc trưng, bao gồm tiền sử khởi phát đột ngột tình trạng đỏ mắt, kích ứng và chảy nước mắt, thường không kèm đau (ngoại trừ các trường hợp mạn tính hoặc viêm thượng củng mạc thể nốt) và thị lực bình thường. Chẩn đoán được xác nhận thông qua thăm khám lâm sàng với các dấu hiệu điển hình như: vùng thượng củng mạc đỏ tươi do giãn các mạch máu thượng củng mạc nông và phù thượng củng mạc, nhưng không có tình trạng phù hay mỏng củng mạc (hình 1). Khoảng một nửa số trường hợp tổn thương cả hai mắt. (Xem mục ‘Biểu hiện lâm sàng’‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Khi có thể, chúng tôi chuyển bệnh nhân đến chuyên khoa mắt để đánh giá lâm sàng toàn diện nhằm giảm thiểu nguy cơ chẩn đoán nhầm. Đối với bệnh nhân bị viêm thượng củng mạc lần đầu, ngoài việc khám mắt chi tiết, chỉ cần thực hiện khai thác bệnh sử và thăm khám thực thể toàn thân đầy đủ.

Các xét nghiệm bổ sung sau đánh giá lâm sàng ban đầu chỉ cần thiết khi bệnh tái phát, khi có bằng chứng của bệnh lý nhãn khoa khác, hoặc khi phát hiện bất thường trong bệnh sử và thăm khám thực thể. Cả các xét nghiệm huyết thanh thường quy và chuyên sâu đều quan trọng trong việc đánh giá những bệnh nhân nghi ngờ có bệnh thấp khớp hoặc nhiễm trùng tiềm ẩn. (Xem mục ‘Chẩn đoán’‘Đánh giá sau chẩn đoán đối với các bệnh lý kết hợp’ ở dưới.)

Chẩn đoán phân biệt – Cần phân biệt kỹ viêm thượng củng mạc với viêm củng mạc, viêm kết mạc, viêm màng bồ đào, viêm giác mạc do herpes và các nguyên nhân gây đỏ mắt khác. (Xem mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

Điều trị

  • Trường hợp không triệu chứng – Đối với những bệnh nhân không cảm thấy khó chịu, thường không cần điều trị vì các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng thường tự khỏi sau vài tuần. (Xem mục ‘Điều trị’ ở dưới.)
  • Xử trí ban đầu – Với những bệnh nhân có triệu chứng khó chịu, chúng tôi đề xuất sử dụng nước mắt nhân tạo không chứa chất bảo quản, ví dụ như Refresh Plus hoặc Bion Tears (Khuyến cáo 2B). (Xem mục ‘Liệu pháp bôi trơn tại chỗ ban đầu’ ở dưới.)
  • Khi không đáp ứng với nước mắt nhân tạo – Đối với những bệnh nhân không cải thiện, đặc biệt là những người khó chịu nhiều, chúng tôi đề xuất dùng thuốc kháng viêm không steroid tại chỗ (NSAID; ví dụ: thuốc nhỏ mắt diclofenac 2-4 lần/ngày trong vài tuần) (Khuyến cáo 2C). Cần loại trừ hội chứng khô mắt hoặc các rối loạn biểu mô bề mặt nhãn cầu khác trước khi chỉ định NSAID tại chỗ, do nguy cơ gây độc của các thuốc này đối với những tình trạng trên. (Xem mục ‘NSAID tại chỗ cho trường hợp khó chịu kéo dài dù đã dùng thuốc bôi trơn’ ở dưới.)
  • Khi không đáp ứng với NSAID tại chỗ – Với những bệnh nhân vẫn còn triệu chứng nặng mặc dù đã dùng nước mắt nhân tạo và NSAID tại chỗ một cách tối ưu, chúng tôi đề xuất dùng glucocorticoid tại chỗ (ví dụ: fluorometholone acetate [0,1%] hoặc prednisolone acetate [1%], 4 lần/ngày) (Khuyến cáo 2C). Việc sử dụng glucocorticoid kéo dài làm tăng đáng kể nguy cơ đục thủy tinh thể, glaucoma, nhiễm trùng thứ phát và mỏng giác mạc – củng mạc; do đó, việc dùng glucocorticoid tại chỗ phải được chỉ định và theo dõi bởi bác sĩ nhãn khoa. (Xem mục ‘Kháng thuốc bôi trơn và NSAID tại chỗ’ ở dưới.)
  • Khi không đáp ứng với các thuốc tại chỗ – Ở những bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp tại chỗ hoặc bệnh tái phát dù đã điều trị, chúng tôi đề xuất dùng NSAID đường uống (Khuyến cáo 2C). Liệu pháp nên bắt đầu với liều thấp (ví dụ: naproxen 220 mg 2 lần/ngày, ibuprofen 400 mg 3 lần/ngày, hoặc indomethacin 25 mg 3 lần/ngày). (Xem mục ‘Bệnh kháng trị’ ở dưới.)

Tiên lượng – Hầu hết bệnh nhân viêm thượng củng mạc chỉ gặp vấn đề nhẹ, đơn độc, đáp ứng tốt với điều trị tại chỗ đơn thuần và không gây đe dọa thị lực. Các biến chứng nhãn khoa ít gặp và thường nhẹ. Tuy nhiên, một số ít bệnh nhân có bệnh hệ thống tiềm ẩn cần điều trị bổ sung. Ở một số trường hợp, viêm thượng củng mạc là biểu hiện sớm của một bệnh lý miễn dịch nhãn khoa nghiêm trọng và gây hủy hoại hơn, chẳng hạn như viêm củng mạc. (Xem mục ‘Tiên lượng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here