TÓM TẮT
Nguyên nhân gây giảm nhạy cảm với hormone tuyến giáp – Kháng hormone tuyến giáp (RTH) là một hội chứng di truyền đặc trưng bởi sự giảm đáp ứng của các mô đích đối với hormone tuyến giáp. Nguyên nhân thường do đột biến trong các gene mã hóa thụ thể hormone tuyến giáp beta và alpha. Các nguyên nhân khác gây giảm nhạy cảm với hormone tuyến giáp bao gồm khiếm khuyết vận chuyển hormone tuyến giáp qua màng tế bào (THCMTD) và khiếm khuyết chuyển hóa hormone tuyến giáp (THMD). (Xem thêm mục ‘Cơ chế giảm nhạy cảm’ ở dưới.)
Có thể phân biệt các rối loạn này thông qua những bất thường đặc trưng về chức năng tuyến giáp (bảng 3). Trong mỗi bệnh lý, đột biến ở một gene duy nhất là nguyên nhân của hầu hết hoặc tất cả các trường hợp được xác định (bảng 1). THCMTD và THMD được thảo luận trong các phần riêng biệt. (Xem “Khiếm khuyết di truyền trong vận chuyển và chuyển hóa hormone tuyến giáp”.)
RTH-beta
Sinh lý bệnh – RTH-beta là một hội chứng di truyền đặc trưng bởi sự giảm đáp ứng của các mô đích đối với hormone tuyến giáp. Bệnh gây ra bởi các đột biến trong gene mã hóa thụ thể hormone tuyến giáp beta (THRB), di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. (Xem ‘Kháng thụ thể hormone tuyến giáp beta (RTH-beta và nonTR-RTH)’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm – RTH-beta đặc trưng bởi nồng độ thyroxine tự do (T4) và thường cả triiodothyronine tự do (T3) trong huyết thanh tăng cao, trong khi nồng độ hormone kích thích tuyến giáp (TSH) trong huyết thanh bình thường hoặc tăng nhẹ, kèm theo các triệu chứng và dấu hiệu rối loạn chức năng tuyến giáp ở mức tối thiểu. Các biểu hiện lâm sàng bao gồm bướu cổ, tăng hoạt động và nhịp tim nhanh (bảng 2). Bệnh thường diễn tiến nhẹ vì tình trạng giảm nhạy cảm với hormone tuyến giáp được bù đắp đầy đủ bởi sự tăng tiết T4 và tăng sản xuất T3. (Xem ‘Kết quả xét nghiệm’ và ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán RTH-beta dựa trên sự gia tăng đặc trưng nồng độ hormone tuyến giáp trong huyết thanh và loại trừ các nguyên nhân gây tăng thyroxine huyết khác (bảng 4). Khi nghi ngờ RTH-beta, cần xác nhận chẩn đoán bằng cách giải trình tự trực tiếp gene THRB để xác định đột biến. (Xem ‘Chẩn đoán’ và ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Điều trị – Đa số bệnh nhân RTH-beta không cần điều trị vì tình trạng giảm nhạy cảm với hormone tuyến giáp dường như đã được bù đắp đầy đủ bởi sự tăng tiết T4 và tăng sản xuất T3. Điều trị bằng levothyroxine chỉ được chỉ định cho những bệnh nhân suy giáp lâm sàng, điều này có thể xảy ra do dự trữ tuyến giáp hạn chế vì suy giáp nguyên phát bẩm sinh đồng thời hoặc do các liệu pháp phá hủy tuyến giáp trước đó. Các bệnh nhân khác có thể cần can thiệp điều trị bướu cổ hoặc các triệu chứng của nhiễm độc giáp. Việc quản lý thai kỳ ở những người mẹ có RTH rất phức tạp. (Xem ‘Điều trị’ và ‘Thai kỳ’ ở dưới.)
Kháng hormone tuyến giáp không do thụ thể (nonTR-RTH) – Trong khoảng 15% các trường hợp, kiểu hình tương tự RTH-beta là do những bất thường di truyền chưa được xác định. Rối loạn này được gọi là nonTR-RTH. (Xem ‘NonTR-RTH’ và ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
RTH-alpha
Một thể hiếm của RTH (RTH-alpha) xảy ra do đột biến trong gene mã hóa thụ thể hormone tuyến giáp alpha (THRA). Những bệnh nhân này có kiểu hình khác biệt với bệnh nhân đột biến gene THRB cả về xét nghiệm chức năng tuyến giáp và biểu hiện lâm sàng; tình trạng kháng hormone tuyến giáp khu trú ở những mô mà tác dụng của hormone tuyến giáp chủ yếu thông qua thụ thể alpha (TR-alpha), cụ thể là xương và đường tiêu hóa. Các đột biến THRA làm ngắn đầu C của isoform TR-alpha-1 có thể biểu hiện kiểu hình lâm sàng nghiêm trọng và kháng hormone tuyến giáp mức độ nặng. (Xem ‘Kháng thụ thể hormone tuyến giáp alpha (RTH-alpha)’ ở dưới.)