TÓM TẮT
Cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro – Truyền hồng cầu (RBC) có thể cứu sống những bệnh nhân mất máu nặng hoặc thiếu máu mạn tính mức độ nặng. Tuy nhiên, thủ thuật này tiềm ẩn nhiều rủi ro, bao gồm quá tải tuần hoàn liên quan đến truyền máu, tổn thương phổi cấp do truyền máu, lây truyền các tác nhân nhiễm trùng, sốt, mày đay và các biến chứng miễn dịch khác (bao gồm cả bệnh mảnh ghép chống chủ). Do đó, lợi ích của việc truyền máu cần được cân nhắc kỹ lưỡng với các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra. (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới và “Truyền hồng cầu ở trẻ nhũ nhi và trẻ em: Cách thực hiện và biến chứng”, mục ‘Biến chứng’.)
Chỉ định chung – Khi quyết định có truyền máu hay không, các bác sĩ lâm sàng không nên chỉ dựa duy nhất vào nồng độ hemoglobin (Hgb). Cần xem xét tổng thể các yếu tố khác bao gồm mức độ cấp tính của tình trạng thiếu máu, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, sự ổn định về huyết động, cũng như sự hiện diện và bản chất của các bệnh lý nền. (Xem phần ‘Các yếu tố trong ra quyết định lâm sàng’ ở dưới.)
Trẻ sơ sinh – Ở trẻ sơ sinh, các lý do phổ biến cần truyền hồng cầu bao gồm: bệnh tan máu thai nhi và sơ sinh, mất máu trong giai đoạn chu sinh, thiếu máu ở trẻ sinh non và mất máu do lấy máu xét nghiệm. Các vấn đề này được thảo luận trong một mục riêng. (Xem “Truyền hồng cầu ở trẻ sơ sinh”.)
Bệnh nhân không ổn định – Truyền máu thường được chỉ định cho những trẻ thiếu máu trong tình trạng không ổn định, có suy giảm chức năng tim phổi (ví dụ: bệnh nhân sốc không ổn định và/hoặc giảm oxy máu nặng). Trong bối cảnh này, nhu cầu truyền máu được quyết định dựa trên các thông số lâm sàng thay vì nồng độ Hgb của bệnh nhân, mặc dù truyền máu hiếm khi được chỉ định nếu Hgb >10 g/dL. (Xem “Sốc ở trẻ em trong điều kiện đủ nguồn lực: Xử trí ban đầu”, mục ‘Hồi sức dịch’ và “Nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em trong điều kiện đủ nguồn lực: Quản lý tiếp theo sau hồi sức”, mục ‘Truyền máu’.)
Bệnh nhân ổn định – Đối với hầu hết bệnh nhân nhi nhập viện có huyết động ổn định, bao gồm cả những trẻ bị bệnh nặng nhưng huyết động vẫn ổn định, chúng tôi khuyến cáo áp dụng chiến lược truyền hồng cầu hạn chế (ngưỡng truyền máu là Hgb 7 g/dL) thay vì các chiến lược truyền máu rộng rãi hơn (Khuyến cáo 1B). Các trường hợp ngoại lệ bao gồm sáu tình trạng được liệt kê dưới đây. (Xem phần ‘Chiến lược hạn chế so với chiến lược rộng rãi’ và ‘Bệnh nặng’ ở dưới.)
Các trường hợp đặc biệt – Có thể áp dụng các tiêu chuẩn truyền máu riêng biệt trong quản lý bệnh nhân nhi mắc các tình trạng sau:
- Chấn thương, nếu đang có tình trạng chảy máu hoạt động (xem “Quản lý chấn thương: Tiếp cận trẻ không ổn định”)
- Phẫu thuật (xem ‘Phẫu thuật’ ở dưới)
- Bệnh lý ác tính (xem ‘Bệnh lý ác tính’ ở dưới)
- Bệnh tim bẩm sinh tím (xem ‘Phẫu thuật bệnh tim bẩm sinh’ ở dưới)
- Bệnh thận mạn (xem “Bệnh thận mạn ở trẻ em: Biến chứng”, mục ‘Thiếu máu’)
- Các tình trạng thiếu máu mạn tính, bao gồm (xem ‘Thiếu máu mạn tính’ ở dưới):
- Bệnh hồng cầu hình liềm (xem “Truyền hồng cầu trong bệnh hồng cầu hình liềm: Chỉ định, chọn hồng cầu tương thích và các điều chỉnh”, mục ‘Chỉ định truyền máu’)
- Thalassemia (xem “Quản lý Thalassemia”, mục ‘Quản lý thiếu máu’)
- Thiếu máu tan máu tự miễn (xem “Thiếu máu tan máu tự miễn (AIHA) ở trẻ em: Điều trị và tiên lượng”, mục ‘Thiếu máu nặng hoặc đe dọa tính mạng’)
- Một số loại thiếu máu giảm tăng sinh (ví dụ: thiếu máu suy tủy, thiếu máu Diamond-Blackfan, các hội chứng suy tủy xương) (xem “Điều trị thiếu máu suy tủy mắc phải ở trẻ em và vị thành niên”, mục ‘Chăm sóc hỗ trợ’ và “Thiếu máu Diamond-Blackfan”, mục ‘Liệu pháp truyền máu’)