Tăng huyết áp ở trẻ em và thanh thiếu niên: Điều trị không cấp cứu

TÓM TẮT

Can thiệp lối sống và quản lý các bệnh đồng mắc – Tất cả trẻ có huyết áp tăng hoặc tăng huyết áp (HTN) ở bất kỳ giai đoạn nào cần được tư vấn thay đổi lối sống lành mạnh, bao gồm:

  • Tập thể dục thường xuyên (bảng 4).
  • Hạn chế các hoạt động tĩnh.
  • Chế độ ăn uống lành mạnh, đặc biệt là tránh bổ sung muối (bảng 5).
  • Xây dựng thói quen ngủ lành mạnh.
  • Tránh hoặc cai thuốc lá và các sản phẩm chứa nicotine.

Ngoài ra, các yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch (CVD) khác (ví dụ: rối loạn lipid máu, béo phì, đái tháo đường) cần được quản lý thích hợp. (Xem thêm mục ‘Can thiệp lối sống và quản lý các bệnh đồng mắc’ ở dưới và “Tổng quan về quản lý trẻ em hoặc thanh thiếu niên có nguy cơ mắc bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch sớm (ASCVD)”.)

Mục tiêu huyết áp – Đối với trẻ tăng huyết áp được điều trị bằng can thiệp lối sống và/hoặc thuốc hạ áp, mục tiêu là đưa huyết áp về mức bình thường theo tuổi (tức là dưới bách phân vị thứ 90 [đối với trẻ <13 tuổi] hoặc <120/80 mmHg [đối với trẻ ≥13 tuổi]). Đối với trẻ ≥13 tuổi tăng huyết áp nguyên phát, một số nhóm chuyên gia áp dụng mục tiêu ít nghiêm ngặt hơn là <130/80 mmHg. (Xem thêm mục ‘Huyết áp mục tiêu’ ở dưới.)

Thuốc điều trị tăng huyết áp: Bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát

Lựa chọn bệnh nhân – Chúng tôi đề xuất khởi đầu điều trị bằng thuốc hạ áp cho những bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn 2 (bảng 1), hoặc tăng huyết áp giai đoạn 1 kéo dài dù đã can thiệp lối sống trong sáu tháng, hoặc có bằng chứng tổn thương cơ quan đích (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm mục ‘Chỉ định’ ở dưới.)

Trẻ có các triệu chứng thần kinh cần được đánh giá và điều trị cấp cứu. (Xem thêm “Tiếp cận cấp cứu và khẩn cấp tăng huyết áp ở trẻ em”“Xử trí ban đầu cấp cứu và khẩn cấp tăng huyết áp ở trẻ em”.)

Lựa chọn liệu pháp khởi đầu – Đối với hầu hết trẻ tăng huyết áp, chúng tôi đề xuất sử dụng thuốc ức chế men chuyển (ACE inhibitor), thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB) hoặc thuốc chẹn kênh canxi (CCB) thay vì các nhóm thuốc hạ áp khác (Khuyến cáo 2C). Liều dùng được tóm tắt trong bảng (bảng 6). Mỗi nhóm thuốc này đều đã được chứng minh là an toàn và hiệu quả trong việc giảm huyết áp qua các thử nghiệm đối chứng với giả dược ở trẻ em, mặc dù hiện còn thiếu các thử nghiệm đối đầu để so sánh trực tiếp giữa các thuốc này. Với đa số bệnh nhân, việc lựa chọn nhóm thuốc tùy thuộc vào sự quen thuộc/ưu tiên của bác sĩ và bệnh nhân, cân nhắc về chi phí và nhu cầu theo dõi xét nghiệm. (Xem thêm mục ‘Liệu pháp khởi đầu’‘Bằng chứng hỗ trợ các thuốc hạ áp ở trẻ em’ ở dưới.)

Các thuốc này nhìn chung dung nạp tốt. Trẻ gặp tác dụng phụ đáng kể (ví dụ: ho) khi dùng thuốc ức chế men chuyển nên được chuyển sang dùng ARB. Thuốc ức chế men chuyển và ARB chống chỉ định trong thai kỳ; do đó, cần tư vấn kỹ cho những bệnh nhân có khả năng mang thai.

Liệu pháp phối hợp thuốc – Thông thường, chúng tôi khởi đầu điều trị bằng một loại thuốc đơn lẻ (ức chế men chuyển, ARB hoặc CCB). Nếu can thiệp này không đạt được huyết áp mục tiêu ở liều tối đa có thể dung nạp, các lựa chọn bao gồm thêm thuốc lợi tiểu thiazide hoặc chuyển nhóm thuốc. Không nên phối hợp thuốc ức chế men chuyển với ARB do làm tăng nguy cơ xảy ra các tác dụng không mong muốn. (Xem thêm mục ‘Thêm thuốc thứ hai’ ở dưới.)

Theo dõi – Cần theo dõi liên tục để đánh giá đáp ứng điều trị, phát hiện sớm các tác dụng phụ của thuốc, từ đó điều chỉnh liều lượng hoặc thêm thuốc mới để đạt được mục tiêu huyết áp. (Xem thêm mục ‘Chăm sóc theo dõi’ ở dưới.)

Tham gia thể thao – Bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn 2 ban đầu nên hạn chế các môn thể thao gắng sức tĩnh cường độ cao (hình 1). Khi tăng huyết áp giai đoạn 2 được điều trị hiệu quả và huyết áp trở về mức bình thường, trẻ có thể được phép tham gia các môn thể thao này dưới sự theo dõi liên tục. (Xem thêm mục ‘Tham gia thể thao’ ở dưới.)

Thuốc điều trị tăng huyết áp: Các nhóm đối tượng khác

Bệnh thận mạn (CKD) và đái tháo đường – Liệu pháp hạ áp cho những bệnh nhân này được thảo luận trong các bài review chuyên đề riêng biệt. (Xem “Bệnh thận mạn ở trẻ em: Biến chứng”, phần ‘Tăng huyết áp’“Đái tháo đường tuýp 1 ở trẻ em và thanh thiếu niên: Sàng lọc và quản lý biến chứng cũng như bệnh đồng mắc”, phần ‘Huyết áp tăng và tăng huyết áp’“Đái tháo đường tuýp 2 ở trẻ em và thanh thiếu niên: Biến chứng mạn tính và sàng lọc”, phần ‘Tăng huyết áp’.)

Bệnh lý mạch máu thận (hẹp động mạch thận) – Đối với trẻ tăng huyết áp do hẹp động mạch thận, chúng tôi đề xuất sử dụng CCB làm điều trị khởi đầu thay vì thuốc ức chế men chuyển hoặc ARB (Khuyến cáo 2C). Thuốc ức chế men chuyển và ARB làm giảm mức lọc cầu thận, có thể góp phần gây suy giảm chức năng thận và tăng kali máu. (Xem mục ‘Lựa chọn thuốc’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here