TÓM TẮT
Thuật ngữ – Bệnh nhân liệt liếc mắt không thể di chuyển cả hai mắt vượt quá đường trung tuyến theo một hướng nhất định. Thông thường, hai mắt sẽ cố định và liếc về phía đối diện do tác động của các cơ vận nhãn đối vận. (Xem ‘Thuật ngữ’ ở dưới.)
Liệt liếc mắt ngang – Các tổn thương tại bất kỳ vị trí nào dọc theo đường dẫn truyền trên nhân hoặc tại nhân điều khiển vận động mắt theo chiều ngang có thể gây ra tình trạng liệt liếc mắt ngang (bảng 2). Tùy thuộc vào vị trí tổn thương, khả năng liếc đuổi (pursuit), liếc nhanh (saccades) hoặc cả hai đều có thể bị suy giảm. (Xem ‘Rối loạn liếc mắt ngang’ ở dưới.)
Liệt liếc mắt ngang có thể do thiếu máu cục bộ và nhồi máu, xuất huyết, dị dạng mạch máu, khối u, hủy myelin, chấn thương hoặc nhiễm trùng. (Xem ‘Liệt liếc mắt ngang: Đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân’ ở dưới.)
Liệt liếc mắt dọc – Các tổn thương tại bất kỳ vị trí nào dọc theo đường dẫn truyền trên nhân hoặc tại nhân điều khiển vận động mắt theo chiều dọc có thể gây ra liệt liếc mắt dọc (bảng 3).
Trong các thể liệt liếc dọc, liệt liếc nhìn lên là thường gặp nhất, tiếp đến là liệt cả liếc lên và liếc xuống, và cuối cùng là liệt đơn độc liếc nhìn xuống. (Xem ‘Liệt liếc mắt dọc’ ở dưới.)
Các bất thường về liếc mắt dọc có thể liên quan đến nhiều bệnh lý, bao gồm: đột quỵ trung não, u tuyến tùng và u di căn, dị dạng mạch máu, não úng thủy (bao gồm cả suy dẫn lưu), viêm, nhiễm trùng, các rối loạn hủy myelin như xơ cứng rải rác và các rối loạn chuyển hóa. (Xem ‘Liệt liếc mắt dọc’ ở dưới.)