Thiểu ối: Nguyên nhân, chẩn đoán và xử trí trong đơn thai

TÓM TẮT

Thuật ngữ, bệnh sinh và chẩn đoán (Xem thêm mục ‘Bệnh sinh’‘Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới.)

Thuật ngữ thiểu ối dùng để chỉ thể tích nước ối (AFV) thấp hơn mức dự kiến theo tuổi thai.

Hai cơ chế phổ biến nhất dẫn đến thiểu ối là: (1) giảm bài tiết nước tiểu do bệnh lý thận thai nhi hoặc tắc nghẽn đường tiết niệu dưới, và (2) mất nước ối do vỡ màng ối.

Chẩn đoán dựa trên siêu âm, có thể được mô tả định tính hoặc ưu tiên định lượng thông qua chỉ số nước ối (AFI) ≤ 5 cm hoặc khoang ối lớn nhất (SDP) < 2 cm.

Nguyên nhân – Các tình trạng thường liên quan đến thiểu ối được liệt kê trong bảng (bảng 1). Nguyên nhân khả thi nhất thay đổi tùy theo tam cá nguyệt khi được chẩn đoán. Đa số các trường hợp xuất hiện ở tam cá nguyệt thứ ba và không tìm thấy nguyên nhân rõ ràng. (Xem thêm mục ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)

Đánh giá sau chẩn đoán – Tiền sử sản khoa và thăm khám lâm sàng (bao gồm đánh giá vỡ màng ối) cùng với siêu âm chi tiết thai nhi được thực hiện cho tất cả các thai kỳ có thiểu ối. Việc sử dụng các xét nghiệm bổ sung (ví dụ: xét nghiệm di truyền thai nhi) tùy thuộc vào tình huống lâm sàng cụ thể. Nếu tình trạng thiểu ối gây khó khăn cho việc đánh giá thai nhi, có thể thực hiện thủ thuật truyền dịch ối chẩn đoán qua thành bụng với khoảng 200 mL nước muối sinh lý dưới hướng dẫn của siêu âm để quan sát rõ hơn giải phẫu thai nhi, từ đó cải thiện việc chẩn đoán nguyên nhân. Ở một số bệnh nhân chọn lọc, bù nước đường uống hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) có thể giúp cải thiện hình ảnh giải phẫu thai nhi. (Xem thêm mục ‘Đánh giá sau chẩn đoán’ ở dưới.)

Tiên lượng – Tiên lượng cho thai nhi/sơ sinh phụ thuộc vào nguyên nhân, mức độ nghiêm trọng, tuổi thai khi khởi phát và thời gian thiểu ối. Các thai kỳ có thể tích nước ối ở mức ranh giới hoặc bình thường thấp thường có tiên lượng tốt, trong khi vô ối có tiên lượng xấu nhất, đặc biệt khi xảy ra trong tam cá nguyệt thứ hai. Các kết cục bất lợi cho thai nhi/sơ sinh trong thiểu ối có thể liên quan đến chèn ép dây rốn, suy bánh nhau, hít nước ối phân su, biến dạng thai nhi do chèn ép kéo dài, hoặc trong tam cá nguyệt thứ hai là thiểu sản phổi. Hiện chưa có phương pháp điều trị hiệu quả dài hạn cho tình trạng thiểu ối. (Xem thêm mục ‘Tiên lượng và tư vấn theo nguyên nhân’‘Các liệu pháp nghiên cứu nhằm tăng thể tích nước ối dài hạn’ ở dưới.)

Chăm sóc tiền sản – Các biến chứng thai kỳ cụ thể liên quan đến thiểu ối được quản lý phù hợp với từng tình trạng. Trong các trường hợp không rõ nguyên nhân, chúng tôi thực hiện đo ghi tâm thai (NST) và đo SDP (hoặc AFI) một đến hai lần mỗi tuần cho đến khi sinh, tùy thuộc vào tình trạng của mẹ và thai nhi. Thực hiện chỉ số sinh vật học (biophysical profile) là một lựa chọn thay thế hợp lý. Chúng tôi cũng siêu âm định kỳ mỗi ba đến bốn tuần để theo dõi sự phát triển của thai nhi. Siêu âm Doppler vận tốc chỉ được sử dụng để theo dõi các thai kỳ có hạn chế tăng trưởng trong tử cung (FGR). (Xem thêm mục ‘Chăm sóc tiền sản’ ở dưới.)

Thời điểm sinh – Đối với bệnh nhân thiểu ối không rõ nguyên nhân, chúng tôi đề nghị cho sinh ở tuần thai từ 36+0 đến 37+6 (hoặc ngay khi chẩn đoán nếu phát hiện muộn hơn) thay vì quản lý chờ đợi (Khuyến cáo 2C). Các bằng chứng hiện tại không đủ để khẳng định rằng kết cục chu sinh của việc tiếp tục quản lý bảo tồn cho đến tuần 39 tương đương với việc cho sinh sớm hơn. Thời điểm và chỉ định sinh trong các thai kỳ thiểu ối do một tình trạng cụ thể phụ thuộc vào chính tình trạng đó. (Xem thêm mục ‘Thời điểm sinh’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here