TÓM TẮT
Sinh lý bệnh – Phù là tình trạng sưng nề có thể sờ thấy do sự gia tăng thể tích dịch kẽ. Phù toàn thân xảy ra do một hoặc nhiều nguyên nhân sau: tăng áp lực thủy tĩnh mao mạch, giảm áp lực keo mao mạch và/hoặc tăng độ thấm mao mạch (bảng 1). Để hình thành phù, thận cũng phải có sự giữ natri và nước. (Xem ‘Tổng quan về sinh lý bệnh’ ở dưới.)
Đánh giá phù chi dưới – Cách tiếp cận đánh giá phù chi dưới ở người trưởng thành phụ thuộc vào việc bệnh nhân phù một bên/không đối xứng hay phù hai bên, và tính chất cấp hay mãn tính của tình trạng phù. (Xem ‘Phù chi dưới’ ở dưới.)
- Phù cấp tính một bên (hoặc không đối xứng) – Đối với bệnh nhân phù cấp tính một bên hoặc không đối xứng, trước hết cần tầm soát huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT). Nếu đã loại trừ DVT, chúng tôi sẽ đánh giá các nguyên nhân khác gây phù cấp tính một bên hoặc không đối xứng (bảng 2). (Xem ‘Phù cấp tính một bên hoặc không đối xứng’ ở dưới.)
- Phù mãn tính một bên (hoặc không đối xứng) – Ở bệnh nhân phù mãn tính một bên hoặc không đối xứng, chẩn đoán thường có thể được xác định dựa trên các đặc điểm lâm sàng. Nếu bệnh sử và thăm khám không phù hợp với một chẩn đoán cụ thể (ví dụ: suy tĩnh mạch, phù bạch huyết hoặc hội chứng đau vùng phức hợp), chúng tôi sẽ chỉ định siêu âm nén (CUS) kèm Doppler. Nếu kết quả CUS gợi ý tắc nghẽn dòng chảy tĩnh mạch vùng chậu, bệnh nhân sẽ được siêu âm đầu dò âm đạo hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT) vùng chậu có tiêm thuốc cản quang. (Xem ‘Phù mãn tính một bên hoặc không đối xứng’ ở dưới.)
- Phù cấp tính hai bên – Đối với bệnh nhân phù cấp tính hai chi dưới, trước hết cần tầm soát DVT. Nếu loại trừ được DVT, chúng tôi đánh giá xem phù có phải là tác dụng phụ của thuốc (bảng 3) hoặc là biểu hiện của suy tim cấp hay hội chứng thận hư cấp hay không (bảng 2). (Xem ‘Phù cấp tính hai chi dưới’ ở dưới.)
- Phù mãn tính hai bên – Ở bệnh nhân phù mãn tính hai chi dưới, chẩn đoán thường có thể dựa trên các đặc điểm lâm sàng (bảng 2). Nếu bệnh sử và thăm khám không gợi ý một chẩn đoán cụ thể (ví dụ: bệnh tĩnh mạch mãn tính, suy tim, tăng áp lực động mạch phổi, bệnh lý thận hoặc gan), chúng tôi sẽ thực hiện xét nghiệm protein niệu bằng que nhúng bán định lượng, đo creatinine huyết thanh, albumin huyết thanh, thời gian prothrombin, xét nghiệm chức năng gan và hormone kích thích tuyến giáp (TSH). Nếu các xét nghiệm này không tìm thấy bất thường, chúng tôi sẽ chỉ định siêu âm tim. Nếu siêu âm tim không gợi ý nguyên nhân gây phù và bệnh tĩnh mạch mãn tính ít có khả năng xảy ra, chúng tôi sẽ chỉ định chẩn đoán hình ảnh vùng chậu để loại trừ tắc nghẽn dòng chảy tĩnh mạch. (Xem ‘Phù mãn tính hai chi dưới’ ở dưới.)
Đánh giá phù chi trên – Cách tiếp cận chẩn đoán phân biệt phù tay ở người trưởng thành tùy thuộc vào tính chất cấp hay mãn tính của tình trạng phù.
- Cấp tính – Phù đơn độc chi trên cấp tính có thể do chấn thương, nhiễm trùng, viêm tĩnh mạch huyết khối nông hoặc viêm khớp viêm ở chi trên. Cần nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch chi trên khi không có các nguyên nhân nêu trên hoặc khi có các yếu tố nguy cơ đáng kể khác như đang đặt catheter tĩnh mạch. Siêu âm nén (CUS) kèm Doppler là lựa chọn hàng đầu để đánh giá ban đầu cho bệnh nhân nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch chi trên. (Xem ‘Phù tay’ ở dưới.)
- Bán cấp/mãn tính – Tình trạng sưng tay diễn tiến chậm hơn thường gặp trong phù bạch huyết. (Xem ‘Phù tay’ ở dưới.)
Phù phổi – Bệnh nhân phù phổi chủ yếu than phiền về khó thở và khó thở khi nằm. Thăm khám lâm sàng thường thấy bệnh nhân thở nhanh, có ran và có thể có tiếng ngựa phi tâm trương (S3). Chẩn đoán phù phổi cần được xác nhận bằng chẩn đoán hình ảnh vì các rối loạn khác, chẳng hạn như thuyên tắc phổi, có thể gây ra các triệu chứng tương tự nhưng yêu cầu phác đồ điều trị khác nhau. (Xem ‘Phù phổi đơn độc’ ở dưới.)
Cổ trướng – Cổ trướng đi kèm với chướng bụng, có dấu hiệu gõ đục thay đổi theo tư thế và dấu hiệu sóng vỗ khi gõ bụng. Nếu nghi ngờ cổ trướng, chẩn đoán có thể được xác nhận bằng siêu âm. (Xem ‘Cổ trướng’ ở dưới.)
Các biểu hiện phù khác – Các thể phù khác bao gồm phù bạch huyết, phù niêm, phù quanh ổ mắt và phù bìu. (Xem ‘Các thể phù khác’ ở dưới.)